mardi 26 février 2008

Sài Gòn, cơn mưa chiều và bánh mì thịt nướng

(VietNamNet) - Giọng nói xứ Quảng của chủ nhân xe bánh mì như cứa vào nỗi nhớ nhà của khách vãng lai trong chiều mưa tầm tã… - một cách kiếm sống và nuôi con mấy năm ở thành phố lớn. Biết bao mảnh đời lầm lụi như thế này chỉ để cầu mong cho con mình có chút ít tri thức, thoát ra khỏi cảnh nghèo, xa hẳn vùng đồng khô nắng rát miền Trung

Sài Gòn bây giờ không còn những cơn “mưa rồi chợt nắng” như trong một bài hát của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn để luôn gợi nhớ trong tôi những kỷ niệm về một thời tuổi trẻ, hối hả mà bình yên, day dứt mà trong trẻo, lận đận mà vẫn hồn nhiên.
Một chiều tôi đứng trú dưới mái hiên một ngôi nhà chờ cơn mưa dứt, dễ chừng đến gần ba giờ đồng hồ. Mưa bong bóng, dai dẳng, mịt mùng, đùng đùng sấm chớp, nước đổ xuống ào ào như thác. Tôi nhìn chăm chú một cái máng xối của ngôi nhà cao tầng trước mặt để định dạng cơn mưa và đo đếm thời gian. Dòng chảy mạnh cong vòng xói xuống đất như xát vào lòng người chờ đợi. Dù không nôn nóng hay lo lắng bồn chồn nhưng trong tôi lại gợn lên một nỗi bất an mơ hồ. Có phải những cơn mưa to luôn đem đến cho người chờ đợi trạng thái như thế.
Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng. Ảnh: huyphong.com

Trong không gian ầm ào thác đổ và lạnh lẽo ấy, bỗng chợt ấm lên bởi một mùi phảng phất – mùi thịt nướng từ chiếc xe bán bánh mì vừa tấp vào mái hiên khi nghe có tiếng người gọi. Tôi lần theo mùi thơm ấy, cái đói chợt dậy lên cồn cào tô đậm thêm cảm giác thèm ăn.
Trên chiếc lò than hồng đỏ lửa là cái vỉ nướng đang cuộn khói thơm lừng. Cái mùi của hỗn hợp gia vị hành, tiêu, tỏi... bốc lên từ những giọt mỡ xèo xèo rớt xuống… Cạnh đấy có xoong thịt sống đầy ắp những miếng thịt đã xay nhuyễn vê tròn, ém dẹp sắp xếp một cách có chủ ý trông rất đẹp mắt. Một rổ nhỏ, hành lá chẻ sợi một bên, dưa leo xắt lát mỏng một bên, ớt một nhúm; tô đồ chua hai màu cam, trắng xen lẫn của củ cải và cà rốt.
Tôi cam đoan những người đứng cạnh tôi hôm ấy đều nuốt nước bọt thèm thuồng như tôi khi dịch vị được kích thích dữ dội. Ổ bánh mì xẻ ra, vài miếng thịt nướng sắp lớp lang trải đều, ít rau dưa và nước chấm chan vào... Miếng ngon như thấm vào cơ thể, thư giãn mọi tế bào. Một chiếc xe máy chạy vào mái hiên. Người chủ nhà đi về không kịp mở khóa cửa đã vội gọi làm cho ổ bánh mì. Không hiểu anh ta đói thật, hay thèm vì thấy tôi đang ngon lành tận hưởng, hay vì mùi thịt nướng ấm sực một góc hè phố nhỏ.







Thịt nướng. Ảnh: Thu Trang


Giọng nói xứ Quảng của chủ nhân xe bánh mì như cứa vào nỗi nhớ nhà của khách vãng lai trong buổi chiều mưa tầm tã. “Ngày hai lần, từ tờ mờ sáng đã đẩy xe đi bán, trưa về đi chợ và chuẩn bị các thứ xong đến bốn giờ chiều lại tiếp tục cuộc mưu sinh. Hai đứa con đang học đại học, mình theo vào”. Một cách kiếm sống và nuôi con mấy năm ở thành phố lớn. Biết bao mảnh đời lầm lụi như thế này chỉ để cầu mong cho con mình có chút tri thức, thóat ra khỏi cảnh nghèo, xa hẳn vùng đồng khô nắng rát miền Trung?
Sài Gòn như một vòng tay mở rộng, bao dung có, khắt khe có, cạm bẫy cũng đầy. Sài Gòn như chiếc tàu há mồm ngày ngày nuốt chửng vào lòng nó biết bao con người tìm đến không chỉ để mưu sinh mà còn bao việc khác: học hành, chữa bệnh, du lịch, mua sắm, tiêu xài, ăn chơi, kể cả chứa chấp tội phạm. Sài Gòn như chiếc thùng không đáy. Người ta nhanh chóng mất hút khi vừa bước xuống từ chiếc xe khách, tàu hỏa hay máy bay… Nhà ga, bến tàu… mới vừa nhộn nhịp chen lấn ồn ào trông chốc lát đã thấy vắng.
Cơn mưa vừa dứt, con đường nhỏ lại rầm rập xe cộ và tiếng còi. Tôi chậm rãi nhón nhén bước đi với tâm trạng thoải mái của người đã ấm bụng và còn đến những năm giờ nữa mới ra ga. Trên con đường tôi đi qua, một chiếc xe bán khoai lang nướng, mùi thơm dịu dàng, ấm áp bủa vây; một chiếc xe trái cây đủ màu xếp gọn gàng bắt mắt; một chảo chuối và khoai lang chiên sôi liu riu; một hàng chè nóng… Những tiếng rao ới lên, kéo dài rồi chìm lỉm. Tiếng thời gian, tiếng đời thúc đẩy sự nhộn nhịp vào điểm cao trào.



Sài Gòn tấp nập. Ảnh: thanhnien.com.vn


Con đường tôi đi qua còn có những hàng bún bò, hủ tiếu, phở, bánh canh… Cũng là những cuộc mưu sinh. Tôi không biết trong số đó có bao nhiêu người là dân ngụ cư như chị bán bánh mì khi nãy. Sài Gòn - nơi đầy ắp những kỷ niệm. Tôi có một thời hạnh phúc, nông nổi, muộn phiền và sai lầm cũng không ít… Con tôi, thế hệ sau lại bước đi trên con đường của tôi ngày trước. Vòng xóay cuộc đời phải chăng chỉ là chiếc đu quay. Con người ta lớn lên, rời khỏi tổ, bay xa rồi lại trở về…
Cám ơn Sài Gòn đã cho tôi một thời sống, học tập, làm việc, yêu thương và trải nghiệm… Cám ơn cơn mưa chiều dài và day dứt. Cám ơn cả mùi bánh mì thịt nướng làm ấm lòng khách phương xa.

Bình An

lundi 25 février 2008

Bàn về chữ "Quyền"

Nhân Quốc hội thảo luận về Luật Dân sự, VietNamNet xin giới thiệu bài viết của ông Dương Trung Quốc "Bàn về chữ QUYỀN"
Đọc những bộ luật xưa, ví như Luật Hồng Đức cách đây hơn nửa thiên niên kỷ, thường thấy luật chỉ quy định tội danh, nói cách khác là nêu những điều cấm. Như thế, điều nào không cấm thì dân được làm. Luật này có 722 điều thì tất thảy đều như vậy, chỉ trừ đôi điều luận về những yếu tố xét giảm tội. Hình như luật pháp hiện đại nhiều nước cũng làm vậy.
Nhưng ở ta, pháp luật còn nặng cả về sự cho phép, được quyền này, được quyền khác. Tưởng vậy là dễ cho dân thực hiện, nhưng xét kỹ lại thấy có những điều không dễ. Ví dụ về một việc không lớn: quy định cho phép biểu diễn những nhạc phẩm của một nhạc sĩ nào đó, do hoàn cảnh lịch sử để lại có những bài không phù hợp. Lẽ ra để dễ cho dân, thì nhà quản lý với trình độ và bộ máy chuyên môn của mình có thể xét trong toàn bộ các sáng tác của nhạc sĩ nọ rồi kê rõ những bài hát không được hát thì lại chỉ kê những bài hát được phép hát, còn lại là cấm tuốt. Do vậy mà dân khó thực hiện và nhà nước cũng khó quản lý, nhạc sĩ và người yêu nhạc lại thiệt thòi...
Tuy nhiên, việc ban quyền cũng không đơn giản. Bởi vì chỉ một chữ "quyền" cũng chứa đựng những nội hàm hết sức đa nghĩa. Cứ theo nghĩa trong ngôn ngữ phổ thông thì "Quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng được làm, được đòi hỏi" (Từ điển tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học, xb 2002). Nhưng khi vận vào các điều luật thì không thể hiểu đơn giản như vậy.
Ví như trong dự thảo Luật Dân sự (sửa đổi) trình Kỳ họp thứ VII này khi đề cập tới "quyền đối với họ và tên" (Điều 26) viết rằng: "Mỗi cá nhân đều có quyền có họ và tên. Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó". Thoạt nghe thì thấy đơn giản, nhưng nếu đó là một quyền (chứ không phải là một nghĩa vụ bắt buộc), thì điều đó cũng có nghĩa là mỗi cá nhân cũng có quyền không có tên, họ (?). Trong khi đó, nhu cầu giao dịch dân sự giữa cá nhân với các cá nhân khác và cộng đồng, cũng như yêu cầu quản lý nhân sự của xã hội thì dường như bắt buộc mỗi người phải có một cái tên chính thức (ngoài ra còn các loại danh xưng khác như tục danh, biệt danh, bí danh, bút danh...). Ví như đồng bào Vân Kiều khi xưa không có họ, cách gọi tên mỗi người còn rất thô sơ lại chưa có chữ viết. Và để dễ quản lý đôi khi phải quy về một mối cách viết bằng một thứ ký tự chung, ví như với dân tộc Hoa, bên cạnh cách viết bằng thứ chữ tượng hình truyền thống phải quy về cách phát âm Hán - Việt rôi ghi bằng ký tự Latin (chữ của đồng bào Thái cũng vậy...). Như thế, thực chất cái quyền này phải được hiểu như một sự bắt buộc (nghĩa vụ).
Cũng như vậy khi đề cập tới "Quyền kết hôn" (Điều 39) chỉ quy định những công dân nam nữ nếu đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật pháp thì được tự do kết hôn, nhưng nếu một người không muốn kết hôn, sống độc thân thì luật pháp có bảo hộ hay không? Nếu so với Điều 47 về "Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo" thì cách diễn đạt rõ hơn là "cá nhân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào", thì chữ "quyền" ở đây được hiểu như quyền lựa chọn (quyền tự do).
Lại có những "quyền" phải được hiểu kèm theo những điều kiện giới hạn. Cứ theo cách thể hiện của dự thảo này thì khối nghề phải bỏ. Ví như "quyền của cá nhân với hình ảnh" (Điều 31) là quá cần thiết. Nhưng nếu hiểu như cách diễn đạt của văn bản "Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi thì phải được cha mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác", thì muốn công bố một cái ảnh có 3 khuôn mặt thì phải đi hỏi ý kiến của cả 3 người cho phép mới được hay sao. Nếu ảnh chụp chung cả Quốc hội thì phải xin phép bao nhiêu người (?). Nếu lại là ảnh cụ Phan Thanh Giản đi sứ qua Pháp chụp cuối thế kỷ XIX thì kiếm đâu ra hậu duệ của cụ để xin phép (?)... Cho nên trong luật phải xác định thời hiệu (cũng giống như bản quyền) và tính đặc thù của các loại hình ảnh (công và tư) rõ ràng...
Cũng tương tự như vậy với Điều 38 bàn về "Quyền bí mật đời tư" thì việc thu thập, công bố thông tin tư liệu về đời tư của cá nhân cũng phải đủ điều kiện như với hình ảnh, tức là phải được phép thì các nhà văn, những nhà nghiên cứu tiểu sử, các sáng tác văn học nghệ thuật v.v... một lần nữa cũng gác bút. Muốn viết về cụ Ngô Quyền, trước tiên phải đăng báo để tìm hậu duệ của cụ mà xin phép (?)... Mặc dầu, ai cũng biết rằng đã có vô khối vụ kiện của hậu duệ kiện các nhà sử học, nhất là các nhà viết văn, viết kịch viết "sai" về về các cụ tổ của họ. Mà những vụ kiện này thường rất quyết liệt vì dễ đụng chạm đến thanh danh các bậc tiền bối v.v...
Do vậy, cùng một chữ "quyền" rất khó diễn đạt cho hết ý, hay cho mọi người hiểu cùng một ý. Giá như luật cứ viết ra những điều cấm thì lại dễ thi hành hơn chăng? Bởi vì, cái nguyên lý người dân được làm tất cả những gì mà luật pháp không cấm là biểu hiện của quyền tự do trong khuôn khổ pháp luật của các xã hội văn minh.
Dương Trung Quốc

Đổ xô đi săn "cậu tý”

TT - Giá các loại cá, thịt... đều leo thang trong thời tăng giá khiến thịt chuột đồng rẻ hơn được tiêu thụ mạnh. Vì thế mới đầu năm con chuột, người dân nghèo ở đồng bằng đã đổ ra đồng đi săn "cậu tý”.

Thịt chuột ngon lại rẻ, trở thành món ăn ưa chuộng
khi mà giá thịt, cá leo thang Ảnh: ĐỨC VỊNH


Tại An Giang, trên những ruộng lúa vừa gặt xong ở vùng đầu nguồn, ở đâu cũng gặp nhiều tốp người đeo lỉnh kỉnh những chùm rập chuột to đùng. Giữa trưa, họ men theo các bờ ruộng lúi húi đặt từng chiếc rập. Đêm mịt mờ sương lạnh, chốn đồng không mông quạnh loang loáng ánh đèn soi leo lét. Tới nửa khuya ai nấy trở về với chùm chuột đồng lủng lẳng. Và mờ sáng họ tỏa đi gom rập, lại trở về với đống rập đầy chuột. "Miệt trên này đang vào kỳ thu hoạch lúa, chuột bắt đầu có nhiều, nhiều lắm" - anh Nguyễn Văn Tươi (ở Vĩnh Hội Đông, An Phú) nói.

Đi bắt chuột tới "mút mùa"…


Trên các cánh đồng dọc kênh Vĩnh Tế từ Tịnh Biên tới Kiên Lương (Kiên Giang) đều thấy bóng dáng dân đi săn chuột. Ngoài dân địa phương còn có khá đông người từ nơi khác đến. Mỗi người mang 500-1.000 cái rập, đặt khắp các cánh đồng ven biên giới và qua tận đất Campuchia. Chỉ cánh đồng phía Kirivong (Takeo) mơn mởn lúa chét, ông Nguyễn Văn Na - Vĩnh Phú, Kiên Lương - bảo: "Bên ấy chuột nhiều lắm. Khi đốt đồng nó tràn về bên mình từng đoàn, lắm khi làm rạp cả vạt ruộng".
Hàng trăm người dân hai bên bờ kênh Phù Dật (Châu Phú, An Giang) đổ lên đây đánh bắt từ tháng chạp. Cuối năm bà con quay về nhà vui xuân ba bữa rồi lại hăm hở lên đường, trong đó có cả phụ nữ, trẻ em. Họ đem theo gạo, vài vật dụng cần thiết và dựng lều nilông tạm che sương, che nắng bên đoạn kênh heo hút.
Tranh thủ thời gian nghỉ học kéo dài tới ngày 12 âm lịch, cậu học trò Nguyễn Văn Tòng theo cha mẹ đi đánh bắt chuột từ mồng ba tết. "Mỗi ngày bắt được dăm ba ký, kiếm 50.000-60.000 đồng" - cậu khoe. Chị Lê Thị Hòa, mẹ Tòng, cho biết mọi năm gia đình chị đều lên đánh bắt ở miệt trên này đến chừng nào hết chuột mới trở về đồng nhà cắt mướn. "Mỗi gia đình mỗi tháng kiếm được cả chục triệu đồng. Khỏe và thu nhập cao hơn làm công cắt gom lúa. Chuột năm nay nhiều, chắc đi bắt tới... mút mùa lúa!" - mấy người trong nhóm của chị vui vẻ nói.

Xóm thịt chuột sôi động


Từ lâu, ở ĐBSCL hình thành nhiều xóm chuyên kiếm sống bằng việc đánh bắt, mua bán thịt chuột mà người dân quen gọi là... xóm chuột. Mới đầu năm, mấy xóm thịt chuột ở Vĩnh Tế, Vĩnh Hội Đông, Ba Chúc (An Giang) đã sớm vào nghề.
Hằng ngày chuột đồng được gom về đấy lột da, xả thịt sau đó đem ra các chợ lân cận bán lẻ hoặc bỏ mối cho bạn hàng. "Cá, thịt heo, gà, vịt… đều tăng giá. Thịt chuột vốn chế biến được khá nhiều món khoái khẩu mà giá chỉ ngoài 30.000 đồng/kg nên bán chạy lắm, bao nhiêu cũng hết sớm" - bà con cho biết.
Nơi chốn đồng xa có đông người đến đánh bắt, thương lái thường đặt điểm thu mua tập trung, đưa phương tiện lên tận nơi vận chuyển chuột về cho cả xóm "gia công". Mỗi chiều, xóm thịt chuột bên kênh Phù Dật lại sôi động hẳn lên. Xe chở chuột liên tục đổ về.
Đó đây, từng nhóm người tụm bảy tụm ba quanh chồng cũi đựng những chú chuột cơm mập ú bị nắm đuôi lôi ra đem lột da, xả thịt… Những "cậu tý” thành phẩm trắng hồng lần lượt xếp vô túi nilông, vô thau nhựa ngay ngắn. Cứ một lớp chuột được phủ lên một lớp nước đá. "Hằng đêm phải đưa xuống Long Xuyên để khuya bạn hàng từ Chợ Mới, Lấp Vò, Cao Lãnh, Cần Thơ... qua lấy về bỏ mối ở các chợ nên cần giữ cho tươi" - Kim Hồng, một mối buôn thịt chuột, giải thích. Cô cũng cho biết do thịt chuột rẻ hơn các loại thịt cá khác nên lúc này tiêu thụ khá mạnh.
Xóm thịt chuột bên kênh Phù Dật hình thành cả tám năm nay với hơn 300 hộ chuyên đi đánh bắt, "gia công" làm thịt chuột. Ngoài ra còn có những thương lái đi thu mua chuột sống khắp nơi về cung cấp và chuyên bỏ mối thịt chuột cho bạn hàng đưa đi tiêu thụ ở các chợ lớn nhỏ quanh vùng. Lúc cao điểm cả xóm tiếp nhận xả thịt khoảng 6 tấn chuột mỗi ngày. Theo bà con nông dân, mùa nước rồi lũ nhỏ, về muộn và do nhiều cánh đồng lên đê bao ngăn lũ nên chuột nhiều hơn mọi năm.





Đặc sản chuột cống nhum



Gần đây cùng với chuột đồng thì chuột cống nhum được nhiều quán ăn, nhà hàng sử dụng chế biến thành những món ăn, món nhậu "độc chiêu", khoái khẩu. "Cánh bạn hàng thường thu mua số lượng nhiều đưa ra các thành phố" - Khánh, một "tay săn" chuột, cho biết. Chuột cống nhum còn sống có giá 22.000-25.000 đồng/kg nên dần hình thành nhiều nhóm thanh thiếu niên chuyên săn bắt chúng.





Nhiều trẻ em nghỉ học sớm hằng ngày đi bắt chuột
tại Vĩnh Điều, Kiên Lương (Kiên Giang)
Ảnh: ĐỨC VỊNH


Thấy dễ kiếm tiền, nhiều học sinh cũng bỏ bê việc học hoặc nghỉ học hẳn hằng ngày đi đánh bắt, "gia công" làm thịt chuột. Trên cánh đồng Vĩnh Điều (Kiên Lương, Kiên Giang) chúng tôi gặp khá nhiều em nhỏ sớm tối lẽo đẽo theo cha mẹ với chùm rập chuột đeo đầy người. Tất cả đều đã bỏ học! Chỉ tính riêng bậc THCS, xóm chuột bên kênh Phù Dật đã có gần 30 em bỏ học - lãnh đạo xã Bình Long (Châu Phú) cho biết.




ĐỨC VỊNH
Chủ Nhật, 17/02/2008


Nghĩa địa cá Ông

(LĐCT) - Cá voi được người đi biển sùng kính gọi là cá Ông. Người ta bảo trong lúc nguy nan gió to sóng cả, cá voi thường xuất hiện như vị cứu tinh, dìu thuyền vào bờ. Khi cá chết, trôi dạt vào bờ, luôn được ngư dân chôn cất theo nghi lễ như thần.

Lão ngư Phạm Mai khấn vái tại nghĩa địa cá Ông.


Ở suốt dọc ven biển miền Trung có rất nhiều nghĩa địa cá voi, nhưng lớn nhất có lẽ là nghĩa địa cá voi xã đảo Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Hằng năm, vào mùa xuân, lễ tế cá voi lại diễn ra như một tập tục tốt đẹp của ngư dân ven biển không chỉ riêng ở Tam Hải mà cả dải ven biển miền Trung...
Xã đảo Tam Hải bốn bề sóng vỗ, hầu hết người dân lấy biển làm nhà. Theo suy luận của những người già trên đảo, do "con đất" Tam Hải có duyên lành nên cá Ông gần như năm nào cũng "luỵ" vào. Đối với dân vùng biển, cá Ông luỵ vào đâu là ở đó may mắn, cả năm đánh bắt trúng đậm. Thực tế, xã đảo Tam Hải có cả 2 cửa biển An Hoà và Lở 2 bao bọc, có lẽ vì vậy nên cá voi hay theo thuỷ triều trôi dạt vào bờ. Ngư dân Đào Sơn chuyên nghề đánh bắt xa bờ, cho biết: Giữa năm 2007 cũng có một Ông thọ nạn, bà con đưa về táng ở nghĩa địa ở xóm Vạn Niên thôn 1, lập bia, cúng tế đàng hoàng.
Nghĩa địa cá Ông Tam Hải toạ lạc trên vùng cát trắng rộng rinh, giữa rừng dương vi vu trong gió, trong tiếng sóng triều rì rào từ biển vọng vào. Có đến gần 500 ngôi mộ chở che thân xác ngần ấy "ông" đã luỵ vào bờ biển Tam Hải từ ngót trăm năm qua. Nhiều người đã đi khắp trong Nam ngoài Bắc khẳng định rằng, đây là nghĩa địa cá Ông quy mô lớn nhất và cũng có lịch sử lâu đời nhất miền Trung, và có lẽ trên cả nước.
Những ngôi mộ nhỏ nhắn được vun trên cát, táng theo hàng, hai đầu mộ đặt 2 viên đá ong vuông vức. Lão ngư Phạm Mai - năm nay 80 tuổi, thâm niên bám biển từ thời niên thiếu - nhớ lại: "Từ hồi tui nứt mắt ra, thấy biển là cũng đã thấy lăng Ông có rồi, trước nằm ở bãi Bấc, sau chiến tranh tàn phá, bà con cải táng các Ông về xóm Vạn Niên bây chừ. Các Ông "linh lắm: khi sống là thần cứu nạn tàu thuyền giữa biển nguy nan, khi luỵ về đây thành thần phù hộ dân làng chài mạnh tay tinh mắt rượt theo đúng luồng tôm cá, ra khơi trở về tôm cá đầy khoang...".



Ngôi mộ mới nhất chôn cất "Ông" luỵ vào năm 2007.

Lão ngư Phạm Mai cũng từng được cá voi cứu nạn. Ông Mai kể: "Lúc gặp bão, thuyền treo trên sóng, mọi người phó mặc cho trời xem như chết rồi. Hai Ông cặp vào 2 mạn thuyền, giữ chặt trong sóng dồi gió dập, dìu thuyền ra khỏi bão. Bởi vậy dân đi biển gặp khi bão tố bất ngờ, chỉ còn cách khấn Ông cứu mạng, nhờ vậy mà vững lòng tin. Có Ông còn dìu thuyền vào cho đến tận bờ, đuối sức mà luỵ...".
Trong ký ức của lão ngư Phạm Mai, lễ táng lớn nhất trong mấy chục năm qua, sau đó xây nên ngôi mộ cá Ông cũng bề thế nhất tại nghĩa địa này, là lần có đến 2 Ông cùng luỵ một lúc. Ông Mai chỉ nhớ đó là vào năm Sửu, đến tháng 8 âm lịch rồi mà thuyền ra biển thường chỉ về không, chẳng đủ tổn (chi phí), nguy cơ đói cả làng. Bữa nọ, một Ông to như chiếc thuyền luỵ bờ. Ngày sau, lại một Ông nữa luỵ. Làng báo lên quan, xin được táng lớn, dồn tiền của làm lễ lạt linh đình ba ngày ba đêm, mấy đoàn hát bội mời về hát thâu đêm suốt sáng, lại đặt bài tế dài xin Ông độ trì cho làng qua kiếp nạn. Xong, kéo nhau ra biển, quả nhiên năm ấy "thắng" lớn...


Nghĩa địa cá Ông Tam Hải với gần 500 ngôi mộ trên cát trắng giữa rừng dương.

Chính vì vậy, loài cá voi được xem như to lớn nhất biển cả bao la nhưng cũng rất hiền lành này khi chết luôn được ngư dân chôn cất như người. Các lão ngư Tam Hải nhớ lại, trước năm 1975, tang lễ cá Ông làm lớn lắm, có văn tế, có quan gia hàng huyện trở xuống áo dài khăn đóng đến lạy, người đầu tiên phát hiện ra Ông luỵ được đóng khăn sô chịu tang. Còn đại lễ tế cá Ông hằng năm diễn ra vào mùa xuân cũng là lễ tế thần Nam Hải, lễ cầu ngư và thời hiện đại thì kiêm luôn lễ ra quân đánh bắt xa bờ vụ chính trong năm (vụ cá nam). Bà con góp tiền góp gạo, chính quyền xã đứng ra chủ trì, làm lễ tế ngay nghĩa địa cá Ông, rồi rước linh Ông ra cửa biển, nhúng lưới, cầu ngư. Lễ tế thường mời đoàn hát bội về hát ba ngày ba đêm lấy "hên" trước khi tàu thuyền xa bờ xuất bến. Có nơi lại tổ chức đua thuyền. Điệu hát múa Bả trạo nổi danh chính xuất phát từ lễ hội cầu ngư này. Đây là lễ hội truyền thống chung của ngư dân suốt dọc ven biển miền Trung.
Đối với xã đảo Tam Hải bốn bề sóng vỗ, gần như dân cả xã lấy biển làm nhà, thì lễ tế cá Ông hằng năm thường tổ chức lớn. Tuy nhiên, dịp tế lễ cá Ông vào mùa xuân năm nay có thể sẽ trở thành lễ tế cuối cùng của ngư dân Tam Hải ở nghĩa địa cá Ông trên đảo này. Cũng như bao thăng trầm sóng gió bể cả, nghĩa địa cá Ông Tam Hải cũng luôn nằm trong vòng xoáy của bể đời, trước cuộc thế đổi thay, lần này là trước công cuộc công nghiệp hoá đang ồ ạt diễn ra ở dải đất ven biển.


Múa hát Bả trạo - một nghi thức không thể thiếu trong lễ tế cá Ông-cầu ngư.


Ông Nguyễn Đức Tục - Chủ tịch UBND xã Tam Hải - cho biết: "Dịp cuối năm 2007 đầu năm 2008, bà con cả xã vừa vui mừng nhận được quyết định của UBND tỉnh công nhận và bảo vệ nghĩa địa cá Ông là Di tích Lịch sử-Văn hoá cấp tỉnh, thì cũng cùng lúc với chủ trương sẽ tiến hành di dời trọn gói cả xã đảo này sang xã Tam Hoà, lấy đất cho dự án du lịch dịch vụ đặc biệt có vốn đầu tư lên đến hàng tỉ đôla Mỹ. Số phận nghĩa địa cá Ông chưa biết sẽ về đâu, vì nghĩa địa con người còn chưa có phương án di dời cụ thể, huống gì..."

.... Tuy vậy, những ngư dân Tam Hải bao đời nay vững vàng trước sóng gió bể khơi, giờ đây vẫn tin tưởng vào sự tồn tại của nghĩa địa cá Ông trong tương lai, như niềm tin vào sự cứu nạn của cá ông bao đời qua đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần để họ vượt qua cơn bão tố bất ngờ. Họ có nguyện vọng, Nhà nước cũng sẽ tính toán cả phương án di dời nghĩa địa cá ông đến nơi ở mới. Điều này chẳng phải cũng phù hợp với định hướng phát triển mang tính kết nối giữa truyền thống và hiện đại đó sao?...

Trương Tâm Thư
Lao Động Cuối tuần số 8 Ngày 24/02/2008

mercredi 20 février 2008

Mùa Xuân Sài Gòn


(TBKTSG Online) - Khen Trịnh Công Sơn quả là thừa. Nhưng không thể không thốt lên “Sao mà tinh tế đến thế!” khi hát thầm đoạn ca từ nói về mùa Xuân Sài Gòn của ông.
“… Sài Gòn mùa Xuân còn thoáng lá vàng bay;
Có mùa Thu nào đang ở lại;
Mặt đường bình yên, hiền ngoan như con suối;
Kết hoa vàng cho lộng lẫy đời
…”
(Thành phố mùa Xuân)
Đúng là Sài Gòn vào Xuân thật lạ so với chính nó. Thành phố phương Nam chỉ hai mùa mưa nắng vậy mà cứ cuối năm trời lạnh se lạnh, nắng hanh hanh, lác đác vài chiếc lá vàng rơi… cứ như là bóng dáng mùa Thu còn đâu đây – một mùa Thu lãng đãng như vẫn thường thấy ở Hà Nội, Huế… ở trong thơ ca.
Nhưng cái mùa Thu sót lại ấy của Sài Gòn lại vẫn rất khác những nơi khác, vẫn rất Sài Gòn. Nhất là trong mùa Tết.
Những ngày giáp Tết và bước vào năm mới, khi mà ở hầu khắp các nơi khác, phố phường tấp nập đông vui với cảnh người người ùa ra đường đi du Xuân, chúc Tết “ngựa xe như nước, áo quấn như nêm”, thì đường phố Sài Gòn thưa thớt xe cộ, bình yên một cách lạ lùng. Không kẹt xe, không va quẹt, không chen chúc ồn ào khói bụi như mọi ngày trước đó. Cũng không tất bật, hối hả. Các con đường như rộng ra, thênh thang, không còn “đáng sợ”. Quá ngoan hiền và được điểm tô rất đẹp. Có những đoạn đường hoa vàng (hoa lim sét và hoa muồng) rực lên từng mảng và trước hiên nhiều ngôi nhà là hoa mai - cũng nhuốm vàng những góc sân. Tha hồ cho người đi đường thong dong ngắm nhìn phố xá, cây cối - chuyện khá “xa xỉ” ở đây.
“Mặt đường bình yên, hiền ngoan như con suối;
Kết hoa vàng cho lộng lẫy đời
…”
Sài Gòn lắng mình, hiền hòa trong nắng Xuân tươi trong. Như thể nó chẳng hề biết đến sự náo nhiệt, xô bồ, hỗn độn trước và sau đó, như thể nó tìm thấy sự bình yên sau gần một năm gồng gánh biết bao nhọc nhằn, háo hức, suồng sã, bao nhiêu khát vọng và thất vọng…
“Sài Gòn mùa Xuân còn thoáng lá vàng rơi;
Có mùa Thu nào đang ở lại
…”
Nhiều năm ở lại Sài Gòn ăn Tết, cái hình ảnh “mùa thu đang ở lại, với hoa vàng… lộng lẫy và mặt đường hiền ngoan…” mang lại niềm vui, nguồn an ủi cho tôi - kẻ xa quê. Cho nên tôi yêu một Sài Gòn như thế, dù chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi của mùa Xuân.


CÔNG THẮNG (Đầu Xuân Mậu Tý)

mardi 19 février 2008

"Người Việt cần đoàn kết hơn"

(LĐCT) - Mặc dù bệnh nặng phải nằm liệt giường đã hai năm nay, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hoá nổi tiếng Sơn Nam vẫn đọc sách, nghiên cứu hàng ngày. Bỏ thói quen đi lang thang đâu đó quả là khó đối với người luôn "ham đi, ham chơi", thích "nói dóc" như ông, nhưng đây chính là thời gian ông lắng lại trong suy ngẫm.
Nhà văn, nhà nghiên cứu văn hoá Sơn Nam.

"Người Việt Nam mình hay nói xạo. Đó là nhược điểm mà không chỉ người nước ngoài, chính dân mình cũng tự biết được. Tôi nói vậy mà không sợ người ta chửi, bởi đã nhiều năm nghiên cứu cá tính miền Nam, cũng như cá tính của dân nhập cư vào Sài Gòn. Ngoài nói xạo, cũng có cái vui là cái gì cũng bỏ qua được. 30 năm giặc giã, sống thác có nhau.

Cảm động nhất là còn rất nhiều hài cốt của người Bắc vô chiến đấu trong Nam, nhiều năm qua tìm vẫn chưa hết. Chính vì sự hiểu nhau giữa dân các miền, cộng thêm cái lợi là cả hai miền đều có người thân sống ở nước ngoài, mà Việt kiều vô tình trở thành trung gian để hai miền gắn bó với nhau hơn, thành ra người mình, người cùng một nhà sao không thương nhau được?

Cho nên, tôi cho rằng, người Việt mình cần đoàn kết với nhau hơn. Một người ở Nam chưa từng ra Bắc, mà chỉ nghe người Bắc nói quê ở Yên Tử là nhận ra "người mình" ngay. Bởi Yên Tử là câu chuyện của lịch sử. Nói như vậy nghĩa là, dân mình từng đoàn kết rồi, thì nay càng phải thắt chặt tình thân với nhau hơn nữa. Thời nay có dịp hiểu nhau hơn ngày xưa, vì thế mà cũng có điều kiện binh vực nhau hơn.

Thử hỏi, vì sao người trong này nhường đất cho người xứ ngoài vào ở, rồi có những nghề người Nam làm rất dở, nhưng người Bắc học được, làm tốt hơn, lại bày cho người Nam, cũng chẳng phải người Bắc giỏi đánh giặc, còn người Nam giỏi làm kinh tế sao ? Từ Quảng Bình đổ ra, dân ăn nói mau lẹ, cái miệng lanh quá, người Nam trái lại, cứ từ từ, rỗi rãi. Cũng vì cá tính này mà những người làm ăn giỏi ở miền Nam bây giờ toàn là người Bắc. Đất ở TPHCM không rớ nổi, có về quê thì những người như tôi đây còn có chút tấc đất mà cất nhà. Chính vì thế mà dân Nam "hơi ngại... dân Bắc, còn dân Bắc thì lại thích đổ xô vào Nam làm ăn.

Ngày xưa, nói đi vào Nam, người ta nhớ ngay câu: "Cao su đi dễ khó về/Khi đi trai tráng, khi về bủng beo". Còn bây giờ thì khác lắm rồi. Dân caosu tứ chiếng vào đây giàu lên, có nhà, có xe nhờ những rừng caosu bạt ngàn.

Về tình đoàn kết, người Hoa ở Chợ Lớn có từ lâu rồi. Họ sống thành cộng đồng, nên làm ăn rất giỏi. Họ buôn bán với các nước xung quanh, những nơi có đông cộng đồng người Hoa sinh sống. Mình phải học người Hoa ở điểm này.

Người Việt tự tin, nhưng lại có tính hay dựa dẫm. Đó cũng là bài học lớn. Thế nên, phải giỏi giao bang với các nước về kinh tế, mà vẫn giữ được tính tự chủ, mới là tốt.

Ở trong nước cũng thế. Người Sài Gòn không phát triển được nếu không có người Bắc và người Trung. Phải học hỏi, dựa vào nhau mới mong phát triển. Trong thời đại mới, người Việt học ít thì khó làm nên chuyện lớn. Có người hỏi tôi, tại sao ở VN có quá nhiều thứ đạo như vậy? Nhưng nếu phân tích ra thì trong vô số đạo, có đạo nào bày dân làm ruộng giỏi, nuôi cá da trơn giỏi như Cao Đài, Hòa Hảo? Người trong đạo có khi còn làm nông nghiệp giỏi hơn cả cán bộ học đại học ra.

Sống cạnh người Khmer, mình còn học họ được nhiều điều. Chỉ cần xem họ tổ chức bơi trải, người Việt mình đã thấy choáng: Họ cử 40-50 người cùng chèo thuyền, còn mình chỉ khoảng 7-8 người thôi. Cho nên, tôi muốn nói thêm là muốn hiểu người miền Nam, phải hiểu người Hoa và người Khmer, mới đủ.

Người Bắc có sức chịu đựng bền bỉ, chăm chỉ, giỏi về tiểu thủ công nghiệp, còn người Hoa ở Chợ Lớn giỏi làm ăn buôn bán các nước, có khi chẳng thua người Singapore. Nhưng về tính cách, phải nói thêm là người Bắc giỏi nói, làm ít hơn nói. Cứ nhìn kiểu pha trà lâu lắc, cầu kỳ là hiểu cá tính của họ. Còn người Trung kiên nhẫn, học giỏi, nhưng tính hơi khắc nghiệt. Mạnh nhất là dân Quảng Nam.

Điển hình là cụ Phan Châu Trinh đó. Ham học hỏi, muốn mở mang dân trí, muốn học các nước xung quanh để tìm đường phát triển cho nước mình. Người Nam thuận lợi hơn, ở xứ dễ làm ra lúa gạo, kênh rạch thông thương, hễ có giặc giã thì người Bắc đánh đỡ cho. Người ba xứ nếu hội tụ lại, giúp đỡ lẫn nhau, thêm sự hỗ trợ của Việt kiều, sẽ làm cho nước mạnh hơn.

Người nước ngoài nhìn vào người Việt, họ thấy nể nhưng tài năng thì chưa thấy. Người Việt ở nước ngoài cũng không phải xuất sắc lắm.
Một góc Huế (Cung Khải Định 2006). Ảnh: Y.T

Văn hóa VN có sự giao thoa giữa văn hoá Ấn Độ và Trung Quốc. Nó mang đầy đủ bản chất của nền văn minh lúa nước, với đặc tính dễ tiếp nhận. Muốn đi ra biển Đông, có thể, trong nay mai, VN sẽ phát triển mạnh hơn về phía nam, tức mở rộng giao lưu với các nước như Singapore, Indonesia, Malaysia, Philippines...

Phía Bắc khó phát triển hơn, theo lịch sử thì nhiều năm phải lo chống đỡ giặc ngoại xâm. Miền Trung khúc ruột ở giữa lại gắn với quá nhiều thiên tai. Phía Nam an toàn hơn về mọi mặt, từ phòng thủ đến việc tránh mưa bão, lại là vựa lúa gạo, là nơi buôn bán sầm uất. Chính vì thế, tin là trong nay mai, TP Hồ Chí Minh sẽ phát triển mạnh hơn nữa, không chỉ là trọng điểm kinh tế, mà còn là trung tâm giao lưu với quốc tế; thậm chí có thể trở thành thủ phủ..., nếu hoàn cảnh lịch sử cho phép. Quan trọng nhất là sự đoàn tụ Bắc Nam, ngày càng gắn bó, hiểu nhau hơn, trong quá trình lao động sản xuất, chiến đấu giữ nước, làm nghĩa vụ quốc tế. Lại còn triển vọng giao lưu hợp tác với Lào, Campuchia, các nước láng giềng Đông Nam Á.

Mấy lời dông dài của ông già Nam Bộ này, nếu có gì làm người khác phật ý, thì mong được bỏ qua. Ngày xuân nói thẳng, nói thật, thay vì nói dóc quanh năm...".


M.T ghi
Lao Động Cuối tuần số 07 Ngày 17/02/2008

samedi 16 février 2008

Làng hoa Gò Vấp - Chỉ còn “hồn xưa dấu cũ”


(Dân trí) - Đến làng hoa Gò Vấp rực rỡ, nổi danh xưa kia, giờ chỉ thấy người-nhà-xe chen chúc nhau trên những con đường nhựa phẳng lì. Người yêu hoa, yêu cái đẹp của Sài thành chỉ còn biết thở dài luyến tiếc một “hồn xưa, dấu cũ”.
Đất hoa xưa, giờ chỉ thấy toàn rau xanh.



Một thời vang bóng…

Trước đây, cứ mỗi độ xuân về, người người từ khắp các phố phường nhộn nhịp cho đến hang cùng ngõ hẻm của Sài Gòn lại nô nức rủ nhau về làng hoa Gò Vấp. Cả một làng hoa rộng hàng ngàn héc ta tấp nập, rôm rả tiếng nói cười, bán mua, tạo nên một quang cảnh đón xuân rất đặc trưng ở Sài Gòn.

Sắc áo, màu trời hòa với những vạt màu vàng tươi của hoa mai và hướng dương, xen lẫn trong màu hồng phấn của những chậu móng tay, màu đỏ thắm của thược dược cùng vô vàn những màu hoa thắm khác như mãn đình hồng, sống đời, mào gà, vạn thọ, đồng tiền…

Đặc biệt, vùng đất phương Nam nắng ấm này vô cùng thích hợp cho loài hoa cúc sinh sôi nảy nở. Bởi thế, ai đi xa vẫn nhớ Sài Gòn da diết với những thảm màu vàng rực của vô vàn loài cúc: cúc Hà Nội, cúc mâm xôi, cúc đại đóa, cúc Tây, cúc Nhật, cúc dại… gắn với làng hoa Gò Vấp lâu đời.

Ngày ấy ở Gò Vấp, người người trồng hoa, nhà nhà trồng hoa nên cứ mỗi dịp cuối năm người trong làng già trẻ lớn bé lại rủ nhau ra vườn hăng say bón phân, tỉa cành, chăm sóc tỉ mỉ để mong hoa nở đúng ngày, đúng vụ. Đám trẻ con lon ton theo người lớn vừa bắt sâu, lặt lá vàng vừa tíu tít hỏi đủ thứ chuyện về năm hết Tết đến, về đủ thứ phong tục mừng ngày đầu năm. Còn các ông già bà cả thì rì rầm kể cho đám cháu những chuyện về Tết cổ truyền và dạy cho lũ con lớn trong nhà về kinh nghiệm trồng hoa.

Khắp làng trên xóm dưới, đi đâu người ta cũng chỉ cười nói với nhau về nắng, về gió, về khí lạnh, khí ấm, về ngày, về tháng và về những kinh nghiệm trồng hoa lâu năm của ông bà truyền lại. Vẻ mặt ai cũng thoáng vương những nét âu lo nhưng không giấu được niềm tự hào khi nghĩ đến cái ngày nụ bung hoa. Không khí trong làng trở nên ấm cúng, thân thiện và nhộn nhịp khác thường.

Làng hoa Gò Vấp vốn đẹp đẽ và nên thơ là thế, nay không còn nữa. Những “dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo” ấy nay chỉ còn đọng trong ký ức những người hoài cổ. Hôm chúng tôi về thăm, làng hoa nổi danh một thời đã bị nhịp sống đô thị “nhấn chìm tan tác”, nhường chỗ cho phố phường hiện đại.

Ông Võ Văn Chánh một nghệ nhân trồng hoa lâu năm rầu rĩ: “Đất trồng hoa cứ ngày càng thu hẹp một cách chóng mặt, mới năm nào cả vùng còn bạt ngàn lá hoa thì nay diện tích trồng hoa chỉ còn chưa đến một trăm héc ta với khoảng chừng vài chục hộ bám nghề”.

Đô thị hóa diễn ra quá nhanh, đất làng hoa đã chuyển thành đất định cư cho rất nhiều hộ gia đình từ phố thị dạt ra sau chiến dịch giải tỏa. Nhà cửa san sát mọc lên, kèm theo đó là tiệm ăn, quán nhậu, cửa hàng thời trang, trụ sở công ty… Nhìn nhà cửa khang trang, quán xá nhộn nhịp, chẳng biết nên buồn vì tiếc nhớ làng hoa hay nên vui vì mức sống người dân đang trên đà phát triển.

Một vài người trẻ yêu nghề, giữ lại mảnh đất nhỏ trồng cây cảnh.


Bà con ở làng hoa Gò Vấp đã chọn cách bán đất để có cơ hội hơn là bám mãi vào nghề trồng hoa nhiều bấp bênh. Bà Năm, một cư dân lâu năm ở Gò Vấp, thở dài não nề: “Đất chật, người đông, muốn hít thở không khí cũng phải tranh nhau từng chút chứ đừng nói đến trồng hoa”.

Chị Cúc, chủ một vườn hoa kiểng ở đường Lê Văn Thọ, tâm sự: “Việc bán đất đổi nghề cũng không phải hoàn toàn là lỗi của nông dân mà vì nghề trồng hoa quá bấp bênh. Tiền đầu tư trồng hoa cứ năm này tăng hơn năm trước, giá nhân công lên, xăng dầu lên, phân bón lên, chậu xi măng lên vùn vụt, nếu bám nghề riết chỉ biết… méo mặt trông hoa”.

Bao giờ cho đến… ngày xưa?

Hoa là một loại cây trồng có hiệu quả kinh tế bởi nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao mà người mua lại ít khi tính toán đắn đo như khi mua các loại nông sản khác. Khi làng hoa Gò Vấp còn hưng thịnh, người Sài Gòn “xài” hoa không hết, chỉ khoảng 60% số lượng hoa ở Gò Vấp được tiêu thụ tại thành phố, số còn lại được chở đi các tỉnh lân cận.

Ngày nay, người thành phố chỉ biết thưởng thức hoa Hà Nội, Đà Lạt, Sa Đéc, Cái Mơn và cả nước ngoài đưa về. Cả một thị trường tiêu thụ hoa lớn đã bị chính người dân thành phố Hồ Chí Minh bỏ quên. Thiết nghĩ, việc định hướng cho nghề trồng hoa để phục vụ cho nhu cầu của thành phố Hồ Chí Minh, cũng như làm đẹp thêm cho thành phố và tăng thu nhập cho người nông dân là cần thiết.

Trong khi chờ Nhà nước có những biện pháp cụ thể định hướng cho nghề trồng hoa, nhiều người dân ở Gò Vấp tâm huyết với nghề cố giữ cho mình mảnh vườn nho nhỏ bên nhà và chuyển sang trồng kiểng.

Bây giờ, mỗi dịp Tết đến, người dân thành phố Hồ Chí Minh đã có thói quen rủ nhau về làng hoa Gò Vấp tìm mua những chậu kiểng đẹp.

Một mùa xuân nữa sắp về, trong không khí hân hoan đón chào năm mới, người dân thành phố lại tràn trề hy vọng về một vùng hoa kiểng “chính cống” của quê hương xứ sở mình.

Đức Nguyễn