samedi 16 février 2008

Nghĩa trang “ông ngài”


(Dân trí) - Nghĩa trang “ông ngài” là nơi chôn cất hàng trăm con cá voi bị chết, xác dạt vào bờ biển, đã tồn tại hàng trăm năm nay, nằm yên lành sau những vạt dương bên bờ biển thôn Thuận An, xã Tam Hải, huyện Núi Thành, Quảng Nam.
Nghĩa trang “ông ngài” cứ tồn tại như vậy cùng với tập tục thờ cúng của dân làng chài Thuận An và cả xã đảo Tam Hải đối với cá voi, còn gọi là cá ông. Giờ đây, khi dự án di dời tất cả những hộ dân của xã đi định cư nơi khác đang thành hình, bà con lại day dứt nỗi buồn về sự an nguy của lãnh địa cá voi này.

Hàng trăm ngôi mộ “ông ngài”

Chúng tôi tìm đến nghĩa trang “ông ngài” khi mặt trời đã đứng bóng trên mặt biển Đông, ánh nắng chói chang toả xuống mặt nước non xanh và núi Bàn Than của dải đất hình bầu dục Tam Hải càng khiến khung cảnh thiên nhiên nơi đây đẹp đến lạ kỳ.

Nghĩa trang “ông ngài” nằm khép mình trong rừng phi lao xanh ngút ngàn, chỉ có những luống đất, phía dưới chỉ đặt hai viên đá o ng để đánh dấu sự tồn tại của một ngôi mộ.

Ông già Lê Xuân Nguyên năm nay đã 70 tuổi, nước da bánh mật, dáng vóc quoắc thước dẫn chúng tôi đi thăm từng ngôi mộ. Ông bảo rằng khi ông sinh ra thì những ngôi mộ này đã hình thành, cách đây ít năm trở về trước thì năm nào cũng có “ông” dạt vào.

Dẫn chúng tôi qua một ngôi mộ “ông” ngài nằm riêng lẻ, đó là một gò đất rộng chừng 80m2, ông Nguyên bảo: “Đó là mộ của mệ (cá voi cái) mà dân làng chôn cách đây cũng gần 40 năm rồi. Lúc thấy mệ dạt vào bờ, cả dân làng phải huy động toàn bộ thanh niên mới đưa mệ vào được đây, chí ít cũng khoảng mười tấn”.

Rồi ông dẫn chúng tôi cắt rừng phi lao đi qua một dải đất nằm lọt thỏm giữa bốn bề cây cối. Ông bảo đó là nghĩa địa chính thức của “ông ngài”, tập trung hơn 100 “ông”. Thoáng trông nó giống như những luống đất được người dân vun lên để chờ trồng cây. Nghĩa địa được chia thành 4 hàng ngang, thứ tự chôn cất cũng theo tháng năm chết của các “ngài”, “ngài” nào chết trước được chôn cất phía trên. Theo cách tính của ông Nguyên thì nghĩa địa này có tới hàng trăm “ông bà” đang an nghỉ.

Thắp nén nhang lên các “mộ phần”, ông già Nguyên trầm ngâm, mắt nhìn xa xăm ra biển. “Các “ngài” thiêng lắm, khi biết mình chết thì bơi vào gần bờ, con người gặp đưa ra biển thì các “ngài” cũng tự bơi vào thôi”.

Rồi ông bồi hồi kể lại chuyện hai “ngài” đã cứu dân làng mình trong những trận mưa bão trên biển Đông. Những năm đó, ngư dân đi biển không có động cơ như bây giờ, thuyền chạy được chỉ nhờ vào những cánh buồm và sức người chèo chống.

Ông nội của ông Nguyên là một thương gia chuyên buôn bán cối đá từ Sài Gòn ra Hội An, Huế. Một lần thuyền ông đang thong dong giữa biển khơi thì cơn bão ập tới, thuyền xoay như chong chóng, mây đen kéo về mù mịt, lát sau mưa ngất trời. Con thuyền chòng chành như chiếc lá giữa biển khơi bão tố. Ông thắp ba nén hương rồi hú ba tiếng, sau chừng 5 phút thì có hai “ông ngài” xuất hiện hai bên mạn thuyền để kẹp chặt không cho con thuyền lắc lư. Khoảng chừng ít phút sau thì cơn bão tan, và hai “ông ngài” bơi đi mất.

Ông Nguyên bảo: “Dân đi biển chúng tôi thường kể cho nhau rằng mỗi khi có bão xuất hiện mà có các “ngài” đến thì bão sẽ tan ngay. Chính vì thế mà dân làng chài đều kính trọng các “ngài”.”

Ông Nguyên còn bảo, ai nhìn thấy các “ngài” chết trôi dạt vào bờ thì người đó sẽ rất may mắn, cả dân làng chài năm đó cũng rất may mắn. Ngư dân nếu thấy “ngài” chết trôi dạt trên biển thì sẽ vớt xác “ngài” cho lên đầu mũi tàu, cánh buồm được hạ lưng chừng để báo hiệu cho cả dân làng biết.

Ông kể, cả đời ông chỉ có duy nhất một lần nhìn thấy xác “ngài”. Hôm đó ông một mình bơi chiếc thúng ra eo biển Bàn Than để thả lưới, khoảng chừng một tiếng sau, ông cất mẻ lưới đầu tiên và thấy rất nặng. Hóa ra lưới ông đã quàng phải xác “ngài”. Ông báo cho dân làng biết, đưa “ngài” vào bờ, đám ma được tổ chức hai ngày hai đêm, có cả người bịt khăn tang…

Nỗi buồn của lão ngư

Ông Nguyên hào hứng kể, năm đó ông đi biển rất trúng, lúc nào cá cũng đầy thuyền. Năm nay đã 70 tuổi, ông Nguyên vẫn ra biển, ông chỉ bơi gần, đánh con cá, con tôm đưa về cho vợ ông ra chợ bán.

Ngày nào ông cũng ghé nghĩa trang các “ngài” để thăm nom và nhổ cỏ. Rồi ông chuyển giọng buồn buồn: “Lúc trước người dân xem trọng các ngài lắm, bây giờ thì bớt đi rồi”. nhưng giờ đây họ cũng không xem trọng lắm nữa rồi”. Trước đây đám ma các “ngài” được tổ chức cẩn trọng, linh thiêng lắm. Nay nếu dân làng có gặp thì cũng chỉ đưa vào chôn cất chứ không đình đám gì.

“Cứ mỗi lần có các “ngài” trôi dạt vào, nhìn người ta chôn cất mà lòng tui lại nhớ về những năm trước”, ông Nguyên rầu rầu, “mà răng các “ngài” dạt vào đây nhiều lắm. Chắc các “ngài” cũng thấy đây là nơi yên lành.

Nghĩa địa “ông ngài” được UBND tỉnh Quảng Nam công nhận là di tích văn hoá cấp tỉnh vào năm 2007. Nhưng thời gian tới, toàn bộ xã Tam Hải sẽ được di dời đến thôn 5 xã Tam Hoà, nhường lại 600ha đất liền và 829ha mặt nước để thực hiện dự án xây dựng tổ hợp nghỉ dưỡng tiêu chuẩn quốc tế có tổng vốn đầu tư lên đến 2,5 tỷ USD với các dịch vụ như khu giải trí đặc biệt, khách sạn, nhà hàng, trung tâm thời trang, trung tâm thương mại…

Chiều tàn trên biển Bàn Than, ánh nắng yếu ớt chiếu rọi xuống mặt biển khiến nơi đây yên ắng vô cùng. Nghĩa địa các “ngài” cũng lặng lẽ và tối mịt vì hàng phi lao che kín. Ông già Nguyên nghẹn ngào: “Không biết họ có di dời luôn phần mộ của các “ngài” nữa hay không. Dân bọn tui kính trọng các “ngài” lắm”.

Quang Nhật

Sầu trên đỉnh Puvan



TTCT - Năm 1887, Colègan, một tu sĩ người Pháp, đã đặt những bước chân đầu tiên thám hiểm đỉnh Puvan. Và lần đầu tiên trong đời, người đầu tiên trong lịch sử vùng đất, ông đã nhìn thấy cây sầu (Oghdgerygwbbvchfh gfdutvyt) nở hoa. Trong những đoạn ghi chép rời rạc, run rẩy, ông viết: “Những đóa hoa sầu đẹp đến nỗi đáng đánh đổi cả cuộc đời người để được trông thấy chúng dù chỉ một lần”.
Và ông ta đã chết ngay sau đó, chết lặng lẽ trên dãy núi Puvan bí ẩn. Những mẩu xương vụn bị thú rừng tha về hang làm đồ chơi cho bầy thú con, chỉ ít dòng ghi lại gói trong chiếc thùng sắt mãi về sau này lưu lạc trong nhân gian. Nhiều người đã đọc, họ tò mò lên núi mà không biết rằng sầu chỉ trổ bông dưới cơn mưa đầu tiên sau mười ba tháng hạn liên tiếp, không một giọt nước trời nào rớt lên đỉnh núi xa xăm. Vài người biết được điều đó, họ đã thấy bông sầu nở nhưng họ không sống sót để trở về.
Đó là tất cả thông tin mà Vĩnh có khi bắt đầu cuộc hành trình lên đỉnh Puvan. Củi, thằng bé chăn dê dưới chân núi mà Vĩnh thuê dẫn đường, thì hằn học: “Đồ quỉ - cây đó xài không được, dê còn chê, hổng biết mọc làm chi mà vô duyên vô dùng, tui đái vô mấy gốc cây đó hoài cho đỡ tức. Má tui nói cây sầu sống bằng xương dê, xương trâu bò, năm nào bầy dê nhà tui chết nhiều sầu mới trổ bông…”. Coi như thằng Củi biết nhiều. Còn Dịu thì chẳng có tí thông tin gì, chỉ biết Vĩnh tới đó thì cô cũng tới đó, nếu có cáp treo thì tốt, không có cũng chẳng sao, Vĩnh leo núi cô sẽ leo núi cùng anh. Chỉ mong sau chuyến đi này cô được khoản tiền kha khá gửi về quê.
Nơi đó có đứa con nhỏ của cô đang sống với má. Mười tám tuổi cô lấy chồng, chín tháng sau ly dị, bữa ra tòa hai đứa còn nắm tay cười ngỏn ngoẻn suốt dọc đường, bà con nhằn: chưa thấy cặp nào bỏ nhau vui vẻ như tụi bây. Họ không biết hai đứa đã ngoéo tay hứa với nhau rồi, đây là ly dị giả đò thôi, chỉ để làm thủ tục cho Dịu đi lao động ở Đài Loan, thương nhau rồi có ly dị một chục lần cũng sẽ nối lại tình xưa, dễ ẹt. Lúc Dịu về sẽ cưới thêm lần nữa, không chừng còn rình rang hơn lần đầu.
Lúc Dịu về, cô lặng lẽ cất cái chòi nhỏ ở góc vườn nhà má ruột, bẻ xoài sống nhai rau ráu mà nước mắt ràn rụa, cô có con với một ông chủ Đài Loan vô lại và bà chủ còn vô lại hơn khi đẩy cô tay trắng ra đường. Chồng cô xách mác vót qua nhà, chém vào gốc cột: “Sao kỳ vậy, em hứa với tui là mình chỉ giả đò ly dị thôi mà, sao kỳ vậy, kỳ quá?”. Dịu nuốt nước mắt, nắn cái mặt câng lên, trâng tráo: “Hồi đó khác, bây giờ khác”.
Và cái khác biệt gây đau đớn nhất là cái bụng binh rỉnh sau làn áo. Ọc ạch đi làm cỏ rẫy kiếm ít tiền sinh con, Dịu hay bắt gặp chồng (đã cũ) của mình mon men bên kia sông, ngó theo. Tóc anh ta dài ra, người ốm o còm cõi, chắc là nhiều đêm không ngủ được. Một bữa mở cửa ra thấy anh ta say rượu nằm trước nhà. Cũng bữa đó Dịu sinh, cô cắn môi bước qua giấc ngủ của chồng, một mình đến trạm y tế. Tối sau, anh ta lọ mọ tới thăm, lúc đầu chỉ đứng đằng xa ngó day diết, một hồi mới lại gần, nói như hụt hơi: “Chắc là thằng nhỏ này biết kêu ba bằng tiếng Việt - ngó thấy Dịu sắp phản ứng, anh ta nói luôn - tui thương nó như con tui, thiệt mà…”.
Vì câu nói đó Dịu gửi con lại cho má, bỏ lên Sài Gòn kiếm sống. Sự bao dung đôi khi gây đau như mũi dao. Và Dịu trở thành gái bao, tự xem đó là một nghề sống được, cô cười cợt câu cửa miệng mà tụi bạn nghề hay thở than: “dòng đời đưa đẩy”. Vĩnh gặp Dịu vào một hôm nào đó mà cả hai đều không nhớ rõ, chỉ biết cái cách cô nhai nước đá lóc cóc giữa bữa tiệc sang trọng làm Vĩnh buồn cười. Và Vĩnh để cô lại bên mình rất lâu, chỉ vì cô luôn nấn ná chờ hết chương trình chiếu phim mới chịu trút áo xống trước mặt anh, đôi nam nữ trong bộ phim Hàn đã đến được với nhau, cô vui, nhưng khi họ gặp trắc trở, nước mắt cô tràm trụa, cô còn buột miệng chửi thề mỗi khi vai ác bắt đầu bày ra âm mưu thâm độc nào đó: “Má nó, ngon ha, ngon thì chui ra đây, tao bẻ lọi cổ…”. Vĩnh để cô ở lại lâu vì lúc gần sáng cô nhớ con, nhớ chồng thường dịch ra mép giường chênh vênh và khóc.
Vĩnh thì chẳng có nỗi nhớ nào sâu sắc đến nỗi phải thức giấc vào giờ đó. Một thằng bé gào khóc ngơ ngác trước căn nhà sập bẹp, cháy rùng rùng sau trận bom, đó là hình ảnh đáng nhớ nhất, đau buồn nhất cũng bị đè lấp bởi những ký ức mờ nhạt, trống rỗng, mù mù những khuôn mặt người, những cuộc chơi cũng na ná giống nhau cũng rượu và những cô gái đẹp. Ngoái nhìn quá khứ nghĩa là tương lai, hiện tại không có gì để làm, anh thì quá bận rộn, anh phải kiếm tiền và dùng tiền đó đi đến những nơi đẹp nhất, sở hữu những thứ đẹp nhất. Nếu giật mình nghe tiếng khóc của cô gái gọi vào những khuya xa, anh chỉ nằm im, nghĩ: sắp sáng rồi, bữa nay làm gì, đi đâu ta?
Và khát vọng được xem sầu nở trên đỉnh Puvan luôn luôn chập chờn trong tâm tưởng. Vĩnh chờ cơ hội đó đã mười lăm năm, và trong mười lăm năm đó anh đã đi gần như khắp các châu lục, khám phá những ngọn núi, dòng sông, những vùng đất được xem là đẹp nhất. Sau chuyến đi Hồng Kông xem triển lãm viên kim cương lớn nhất thế giới, Vĩnh về nhà và mơ thấy những cây sầu trên đỉnh Puvan bị mây ngậm vào miệng, ướt đẫm. Vùng đất rộng lớn bao gồm cả núi Puvan đã không mưa suốt mười ba tháng ròng; và cô phát thanh viên điệu đàng trong chương trình dự báo thời tiết nói rằng sẽ có mưa, trong vòng một tuần nữa. Vĩnh vùng dậy, bắt đầu cuộc hành trình, gọi Dịu đi theo. Dịu chẳng hỏi han gì suốt một chặng đường đi, cô không quan tâm anh đi đâu, làm gì. Cô chỉ cần tiền và anh thì cần cô trong đoạn đường này, vậy thôi.
Nhưng đến chân dãy núi Puvan hoang vu, phế tích thì Vĩnh nghĩ cần thêm một người dẫn đường. Thằng Củi lù lù hiện ra, một linh hồn mười lăm tuổi trong cơ thể đứa bé lên chín, ở trần, gầy nhom, lem luốc, hai xương vai bén ngót, nhô lên cao, môi nẻ ra, bong những cái vảy nhỏ. Dịu hỏi:
- Ê, nhỏ, làm gì ở đây?
Nó cười, toàn khuôn mặt chỉ long lanh một hàm răng trắng nhởn:
- Tui chăn dê.
- Dê đâu?
Nó lon ton chạy vào hốc núi và lôi ra con dê mỏng dính, một bộ xương xơ xác. Nó chỉ tay mông lung:
- Hồi trước tui chăn cả bầy mười mấy con. Hạn quá nên tụi nó chết hết rồi. Bây giờ chỉ còn con Danh này thôi.
Thử nghĩ có tay máy nào đó chụp ảnh thằng bé còm này với chú thích “chăn dê”, người xem hỏi dê đâu, anh ta nói dê chết hết rồi, hạn hán quá lâu, cỏ cây cháy lá hết, nguồn nước cũng kiệt nên chỉ còn một con dê, nhưng con dê đó cũng chui vào hốc đá trốn nắng, nó kiệt sức lắm rồi. Cũng như chụp ảnh cái hồ nước trống không với chú thích “hai con vịt”, hỏi vịt đâu anh ta bảo vịt vừa bơi ra khỏi hồ. Vĩnh bỗng buồn cười. Thằng bé chăn dê tinh tế nhận ra ngay cái nhìn thiếu niềm tin của Vĩnh, nó lôi ngay trong cái bị bàng rách rưới một cái đầu lâu dê với những hốc xương trống rỗng, hai sừng nhọn vút ra phía sau: “Tui nói thiệt. Đây là con Chương nè, tụi tui thân lắm, nó toàn nằm ngủ chung với tui. Năm ngoái nó dám đánh nhau với chó rừng để cứu tui, nhưng giờ nó chết rồi, tui nhớ nó muốn khùng”. Thằng bé mếu máo nhưng hai mắt ráo hoảnh, dường như nước mắt cũng bị cái nắng dai dẳng rút cạn, bay hơi đi.
Và thằng người khô quắt bắt đầu thể hiện uy quyền của người bản địa, nó ngó bọn Vĩnh, mắt trợn tròng trợn trạc, nuốt nước miếng, hắng giọng:
- Mấy người đi đâu đây?
Vĩnh ngó lên đỉnh núi Puvan đã mù mù mây. Thằng bé cười ngạo nghễ: “Coi tướng ông không biết đường lên đó đâu”. Vĩnh cười: “Tôi không cần biết, vì cậu sẽ dẫn đường cho tôi. Ba chục ngàn, đủ chớ?”.
Thằng bé lẩm nhẩm, ba chục ngàn hả, ba chục ngàn thì mua được ba chục gói mì tôm. Những gói mì mới tinh từ tay ông Tàu chủ quán cứ lào xào trong tâm trí của thằng bé khiến đôi mắt khô vàng sáng lên. Không có cuộc trả giá nào, rẻ mạt, Dịu nghĩ thầm, chua xót. Không hiểu sao cô nghĩ tới con mình.
Cô nhìn khuôn mặt đẹp như tạc từ đá của người tình, cô không thấy lạ chút nào nếu anh lạnh lùng, tàn nhẫn thêm chút nữa. Như đã từng bắt cô phải đếm lại tiền công trước mặt anh. Như đã từng lạnh lùng bỏ đi trước dù cô say mèm vấp té ngay thềm khách sạn. Như thường bỏ mặc lúc cô ngấm rượu, da thịt phơi trần, không đắp giùm một tấm khăn, tấm áo. Cô chỉ ngạc nhiên trước vẻ bồn chồn, háo hức của anh với Puvan, trước sự da diết của anh với Puvan, trong lúc chờ thằng bé “đem con Danh về cất đàng hoàng mới được, lúc này ăn trộm dữ lắm, với lại tui phải cho má tui hay, mắc công má tui lo”.
Thằng bé tên Củi, chứng tỏ bà mẹ cũng tự trọng khi đặt tên con, Vĩnh hơi nhếch mép cười khi nghĩ tới điều đó. Đó là cảm giác bình thường cuối cùng trước khi anh bỗng chông chênh, hơi dại đi, cảm giác anh hay có khi sắp đến một kỳ quan nào đó. Vĩnh hơi vấp ở những gờ đá đầu tiên. Không hề có con đường mòn nào.
Vùng núi Puvan nằm sát biên giới, ngày xưa mỗi năm vài lần thổ phỉ tràn sang cướp bóc. Chỉ còn một làng nhỏ đìu hiu hơn hai chục nóc nhà và lời nguyền chết chóc của những bông hoa sầu trên đỉnh núi đã làm vùng đất này càng hoang vắng hơn. Thằng Củi kể người làng nó căm thù những cây sầu trên đỉnh Puvan, người ta gạt đi trước những lời đồn đãi rằng bông sầu đẹp, đẹp gì cái thứ đó, đẹp gì ác nhơn ác đức vậy! Năm nào cây trổ bông thì cả làng đói nhưng không ai đốn bỏ chúng được, dường như chúng không phải là cây mà là đá. Chẳng ai, kể cả trẻ con, muốn lên đỉnh núi u buồn đó, người ta dần quên lãng trên Puvan còn có những cây sầu. Năm nay nửa làng đã bỏ vào thành phố làm mướn, ăn xin.
Và những con dê được mang tên đám bạn Củi để lúc gọi lên nó thấy ấm lòng. “Trễ lắm là tối nay xóm tui có mưa” - trong cơn hưng phấn, đứa bé khoái chí chỉ về phía làng mình, nhưng ngay lập tức ngón tay nó hơi cong lại, như thể chỉ cần thẳng ra là tay nó hướng ngay vào sự nghèo khó, hắt hiu. Thằng Củi luôn miệng kể lể, nó bò lên trước, trông như con thằn lằn nằm vắt trên những tảng đá dựng, thỉnh thoảng nó dừng lại chờ Vĩnh và Dịu, thỉnh thoảng nó ngây ra nhìn người đàn ông xa lạ và ngượng ngập cười xòa khi ánh mắt của mình bị Vĩnh bắt gặp: “Hồi nào giờ tui chưa biết mặt ba tui, tui nhìn coi ông có chỗ nào giống tui không?”. Câu nói làm Vĩnh khựng lại một thoáng và Dịu nhớ con đến rã rời. Đỉnh Puvan như lún mãi vào những đám mây đen.
- Tối nay trời chắc mẻm mưa - thằng Củi hớn hở - Con Danh chắc khoái lắm, thể nào nó cũng chạy ra sân tắm một bữa đã đời.
Vĩnh còn mong gì hơn, cơn mưa đầu tiên sau hơn bốn trăm ngày nắng như thiêu như rang, và sầu trổ những bông hoa đầu tiên. Vĩnh cảm giác mình chờ lâu hơn mười lăm năm, chờ trước cả khi anh đọc được những dòng chữ nguệch ngoạc đổ tháo của vị tu sĩ người Pháp được trưng bày trong viện bảo tàng. Puvan luôn ẩn hiện vào trong những ngày mai của anh, giúp anh ngồi dậy sau trống rỗng sau mỗi cuộc chơi sau mỗi chuyến đi ta bà thế giới. Anh gần như chạm tay vào tất cả những gì mình muốn, tận mắt nhìn thấy những gì mà người đời ca tụng là tuyệt vời nhất, chỉ những bông sầu trên đỉnh Puvan không tùy thuộc vào tham vọng hay sự giàu có của anh, chỉ những bông hoa sầu trên đỉnh Puvan trong lòng anh cứ mỗi năm một lần tan tác trước những cơn mưa sớm.
Nhưng bây giờ anh đã gần những bông sầu hơn bao giờ hết, ý nghĩ đó làm Vĩnh bươn lên trước một khoảng xa. Dịu bị tụt lại vì mệt, thằng Củi cũng ở cùng cô. Dịu bẻ cành gai viết tên nó lên thân cây chỉ còn tươm chút nhựa: “Củi đang ở đây”, thằng Củi sướng rơn khi vân ve ngón tay dơ èm quanh chữ Củi, nó nói tên nó sao mà gọn hơ. Lần đầu tiên nó thấy được đường nét của tên mình. Nhưng Củi không chơi lâu, trong lúc chờ chân Dịu đỡ mỏi, nó bứt dây leo xâu những chai nhựa đựng nước mà bọn Vĩnh, Dịu đã trút cạn vào hai cổ họng khát khô, quảy lên vai, xúng xính: “Để dành hạn đi vô suối lấy nước uống. Má tui quí mấy cái chai này lắm, đựng nước mắm, nước màu cũng tiện”. Thằng Củi phân trần, coi bộ nó sợ Dịu đòi lại.
Thằng Củi làm Dịu nhớ con, dù chẳng có liên hệ nào rõ ràng. Củi lớn, con Dịu vẫn còn nhỏ, Củi đen nhẻm, con Dịu lại trắng trẻo, xinh đẹp. Nhưng không có gì chắc chắn thằng Củi không là hình ảnh của con Dịu mười năm nữa. Cô bâng quơ:
- Ở với má khổ quá hả?
- Khổ gì đâu... Chăn dê cũng sướng... - thằng Củi ngỏn ngoẻn - không được ở với má mới buồn dữ.
Trời ơi, sau câu nói đó thì Dịu muốn về nhà ngay lập tức. Ngó xuống bãi đất lổn nhổn xương khô - cô không phân biệt được xương của súc vật hay của người - xa vợi dưới kia, cô bỗng ngẩn ngơ không hiểu làm sao mình lại kẹt trên một triền núi xa lạ này. Vĩnh vẫn không ngoái lại, bươn tới đỉnh núi, tới cơn mưa, tới những cây sầu. Dịu cũng đứng lên, bấu víu từng gờ đá vẫn còn nóng rẫy. Cô muốn cùng Vĩnh tàn chuyến đi này, chuyến cuối cùng của một Dịu gió sương. Cô muốn nói một lời từ giã.
Nhưng đến cuối chiều cả ba người mới cùng đứng với nhau, nơi đỉnh núi. Vĩnh ở sẵn đó, không có vẻ gì chờ cô. Trước mặt anh là những cây sầu với những vòm lá đã héo hắt, chực rụng khỏi cành. Mưa lay phay, đỉnh núi Puvan bị buốt trong hơi nước. Trời tối rất nhanh, như thể sau cái chớp mắt màu trời lại thẫm hơn. Thằng Củi lo tối quá không về nhà kịp, nó đứng lóng ngóng như bị nước nóng đổ đít, mà hai vị khách không có vẻ gì muốn quay xuống núi, nghĩa là nó cũng chưa chạm tay tới món tiền công. Đành chờ đợi.
Mưa bắt đầu nặng hạt, thằng Củi quay tròn dưới làn mưa, nó muốn xuống núi để cho má nó hay, mưa rồi, mưa thiệt rồi. Củi sướng như sắp ngất đi, nó lôi cái đầu lâu con dê tên Chương ra nói như khóc, tắm mưa nè mầy, tao đã biểu mầy ráng chờ, thể nào cũng được tắm mưa, mầy không nghe, mầy chết. Dịu đứng gần đó, tóc chảy ướt rượt, ứa nước mắt vì thằng nhỏ đã héo tới mức dầm trong mưa càng quắt queo hơn. Vĩnh thì như phát điên, như đang mộng du khi những vòm lá chết của những cây sầu bỗng phát sáng. Chúng cuốn tròn lại như một búp hoa và từ từ rẽ thành từng cánh từng cánh lấp lánh.
Vĩnh nín thở. Sầu trổ bông.
Lần đầu tiên trong đời, thằng Củi thấy bông sầu nở. Nó nghĩ mấy người thành phố này cũng rảnh thiệt, chắc là hết chuyện làm, nên lặn lội biết bao xa chỉ để tới ngó bông sầu. Trong mắt nó bông sầu còn tệ hơn bông bí vì bông bí ăn được. Thằng Củi bỗng lên tiếng:
- Thôi, tui về, để má tui dầm mình hứng nước mưa tội bả.
Dịu định nói gì đó để giữ nó lại, nhưng khi nhìn vào nó, Dịu đọc được sự căm ghét những kẻ vì bông sầu mà đã cầu mong cơn nắng thật dài, không cần biết nơi này những bầy dê chết cong queo trên đồng cỏ cháy. Dịu giúi ít tiền vào tay thằng Củi, nó không tỏ vẻ mừng, dường như có mưa là có khoai ăn có cơm ăn, nó cũng không cần tiền của những người xa lạ nữa. Và thằng Củi đã biến mất sau màn mưa, chìm lỉm vào bóng tối. Chỉ thấy cái đầu nó nhấp nhô ngọ nguậy rồi bặt tăm. Còn lại tiếng đất đá tuôn rào rào. Dịu lo cho thằng Củi, bỗng dưng...
Không hạt mưa nào xuyên qua vầng sáng kỳ ảo của những bông sầu. Vĩnh bảo Dịu trốn vào đó, và khi quay nhìn lại cô đã ngủ, tay nắm chặt cái túi xách nhỏ. Vĩnh biết trong đó có cái hình cưới, cô cài cành bông giả màu hường lên đầu, quê òm, cười thẹn thò bên cạnh người con trai hơi đen, cũng quê òm. Cô ta không cần tìm kiếm và chờ đợi bông sầu. Nên cô ta ngủ khi bông sầu vẫn nở và vẫn rạng rỡ những sắc màu, ngủ như khi anh vẫn còn nằm trên người cô. Một cuộc đời hèn mọn với những ước mơ hèn mọn luôn làm Vĩnh khó chịu lẫn một chút ngạc nhiên.
Nhưng những gì anh có, anh hưởng thụ nửa đời qua đã tầm thường nhạt nhẽo trước những bông sầu đang chuyển sang phớt tím, trong vắt, hắt sáng lên vùng trời tối tăm mưa gió. Bất ngờ anh không nghĩ ra cái gì còn có thể đẹp hơn nữa. Không còn cái gì xứng đáng với những bông sầu để thay thế trong ý nghĩ về ngày mai của anh.
Và anh biết làm sao với ngày mai? Còn gì để mà chờ đợi, mà chinh phục nữa? Anh còn níu được gì để ngồi dậy mỗi ban mai? Vĩnh quì trước vòm bông sầu, rối bời vì ý nghĩ đó. Cô gái giang hồ kia sống vì con, vì mối tình ngắc ngoải, bị xé lìa; thằng bé tên Củi thất học kia còn có mẹ; anh thì không vì ai, không vì cái gì hết. Anh thấy sợ hãi ngày mai trống rỗng kia. Hoang mang. Ngơ ngác. Rã rời. Vụn nát. Vĩnh gần như quị xuống khi những bông hoa bắt đầu tím thẫm, như màu môi của Lam, mối tình đầu của anh khi người ta vớt xác cô ở ngã ba sông. Vĩnh chứng kiến cô rơi khỏi tàu nhưng Vĩnh chẳng làm gì cả, Vĩnh không biết làm gì trước những xoáy nước, Vĩnh sợ. Như Vĩnh không biết làm gì trước những vụn thịt rơi vãi của những người thân mình trong một buổi bom đạn hôm xưa.
Lúc Dịu thức dậy, người đã ướt đầm mồ hôi vì hình ảnh cái cây khắc tên thằng Củi cứ chập chờn đau đáu, thảm thiết như một tấm bia mộ. Vía cô cứ chạy mãi vào những bụi gai, thịt da bị cào rách bươm, khản tiếng gọi “Củi ơi”. Dịu thức dậy, bông sầu đã rụng tả tơi, những bông sầu bầm lại như máu khô. Và Vĩnh treo mình lửng lơ trên cành sầu khẳng khiu, trơ trụi. Trên đỉnh núi không có thêm đỉnh núi, và Vĩnh không muốn xuống núi, chẳng có gì chờ đợi anh ở đó.
Đỉnh núi mờ sương xào xạc gió, như đang day diết lại lời nguyền. Chỉ người phụ nữ kia là không tin những cây sầu giết người. Cô xuống núi, một mình.

Truyện ngắn của NGUYỄN NGỌC TƯ

Rượu có nói gì đâu !


TTCT - Bệnh viện huyện nằm bên bờ ruộng lúa. Bao quanh bệnh viện là lúa. Bước chân ra cổng gặp lúa. Hình như ở đây cái gì cũng nằm bên bờ ruộng.
Hàng bánh xèo, quán bún cá, quán nem nướng, cà phê... đều nhìn ra ruộng lúa. Hầu hết những con đường lớn nhỏ đều chạy xuyên giữa cánh đồng.
Tôi đến đây để thăm một người quen bị tai nạn, cũng chỉ ở lại từ chiều hôm trước đến sáng hôm sau. Cái tôi nhìn thấy đầu tiên là khu bệnh viện mới đang được xây dựng ngay bên cạnh bệnh viện cũ xập xệ. Bệnh viện mới đã lên được ba tầng cao sừng sững đổ bóng xuống cánh đồng. Nghe nói ngoài các phòng bệnh bình thường sẽ có thêm nhiều loại phòng mới cho người bệnh tự chọn, gọi là “phòng theo yêu cầu”. Đó là các loại phòng sáu giường, bốn giường, hai giường kèm các tiện nghi và chế độ chăm sóc khác nhau tùy giá tiền. Có cả loại phòng đặc biệt một giường được thiết kế theo kiểu phòng khách sạn... Nhưng đó là trong tương lai, còn hiện tại khu bệnh viện cũ vẫn đang được sử dụng. Trước cửa phòng khám có rất nhiều người cầm thẻ bảo hiểm đứng ngồi chờ gọi tên. Lại có nhiều người nữa đi đi lại lại tìm các phòng siêu âm hoặc xét nghiệm. Họ gọi nhau, chào nhau, hỏi chuyện người quen rôm rả như trong hội chợ.
Phòng hậu phẫu nằm sâu phía trong lại vui nhộn một cách khác. Phòng có bốn giường thì hai giường đã có người. Mỗi người bệnh phải có ít nhất một người nhà đi theo phục vụ chưa kể người quen đến thăm và những người ở các phòng bên cạnh sang chơi, nên trong phòng luôn có ít nhất bốn người trở lên. Ngoài hai người bệnh phải nằm im còn mọi người đều chuyện trò rôm rả thoải mái. Xin bắt đầu từ giường số 1. Người nằm giường số 1 là một ông già ngoài bảy mươi mổ dạ dày. Người chăm nuôi ông là bà vợ cũng ngoài bảy mươi. Bà được những người có mặt trong phòng lúc đó phong cho danh hiệu “người đẹp”, bắt đầu từ lúc bà ra ngoài cổng bệnh viện mua về một hộp cơm. Bà xẻ nửa phần cơm ra nắp hộp cho mình, phần còn lại và toàn bộ thức ăn bà để lại cho ông chồng. Vừa đỡ ông ngồi dậy bà vừa nói: “Ở đây cho ăn cơm, về nhà cho ăn cỏ non”. Câu nói của bà làm những người có mặt trong phòng thích thú. Ai đó nói:
- Bà già vui ghê. Hồi trẻ chắc phải cỡ hoa hậu chứ không đùa.
Nghe khen, bà già liền giơ cao bàn tay phải có một ngón bị tật cứng đơ ra cho mọi người nhìn, kể:
- Bởi vậy mới nói Trăng rằm rời rợi sáng soi, anh mải coi nhan sắc không coi cái chui cày này.
- Lại còn hay thơ nữa.
- Không phải của tui - bà già cải chính ngay - Đó là tui ăn cắp của bà chị ổng. Lúc cưới tôi về rồi bà chị ổng mới nhìn thấy thằng này (tức ngón tay bị tật). Bả hòi thằng Ba nó có biết không, tui nói không. Nhưng tui không có giấu. Tại ổng làm biếng nắm tay tui nên không biết chứ tui đâu có giấu...
- Ổng làm biếng nắm tay nhưng làm siêng cái khác phải không?
- Phải, cái khác thì ổng làm siêng lắm. Nghe vậy bà chị mới nói: “Thôi rồi, vậy là trăng rằm rời rợi sáng soi, anh mải coi nhan sắc không coi cái chui cày (là cái tay cùi) rồi”. Nhưng thằng này nó không phải cùi. Nó bị lên mụt càng cua, nhưng hồi đó không ai bày, không biết chữa nên mới thành ra vầy. Có chín ngón tay vậy chứ tui giỏi lắm á. Ổng đi năm bệnh viện, hết gan, thận rồi bao tử, tui đi nuôi cả chứ ai.
- Con cái đâu, sao không thấy đứa nào?
- Nó còn phải đi làm. Có con mà nhờ cũng đỡ lắm. May có tiền tụi nó đưa về cho mới đi hết viện này tới viện kia chứ không thôi... Còn bên đó? Bị sao vậy?
Bây giờ mối quan tâm được chuyển sang giường thứ 2. Nằm giường thứ 2 là một người đàn ông mổ chấn thương sọ não. Người đi theo phục vụ là bà vợ khoảng 50 tuổi. Khi được hỏi về nguyên nhân khiến ông phải vào viện, bà vợ kể, đại khái: Mấy ông trong xóm rủ nhau gầy độ nhậu ở nhà ông A. Sắp hết một can rồi mà vẫn chưa đã, ông B. mới đứng dậy nói: “Thôi đi qua bên tao uống tiếp, đi”. Cả đám đứng lên kéo nhau qua nhà ông B. tiếp tục nhậu. Đang nhậu dở chừng thì ông B. chủ nhà tự nhiên đứng dậy xua tay đuổi: “Về, về. Đi về!”. Cả đám ngơ ngác chưa hiểu ra sao thì chủ nhà đã chạy ra sau nhà vác một cây củi ra, sừng sộ: “Tao nói về không về hả?”, rồi vung cây củi quật thí xác vào đám bạn nhậu. Khi đó mấy cha mới tá hỏa bỏ chạy. Ông này (tức nạn nhân đang nằm đây, tức ông chồng bà) tiếc đôi dép còn ráng đứng lại xỏ nên mới bị một gậy trúng đầu té lăn xuống trúng hòn đá...
- Có vụ gì mà nhậu dữ vậy?
- Có gì - bà vợ nạn nhân đáp - Mấy cha đó mà cần gì phải có gì. Ở nhà bên kia thì có chén mắm ruốc với mấy que tăm. Mỗi ông cầm một que tăm quẹt vô chén mắm một cái tợp một hụm. Sang bên này thì ớt chỉ thiên. Dĩa ớt để giữa, mỗi ông lãnh một trái, cắn một miếng ngửa cổ uống một hớp. Vậy mà cũng hết mấy can nữa là...
- Cũng vui. Kể ra nhậu vậy cũng còn hơn mấy bà đánh bài - một người nói - Lúc uống vô rồi là rượu nó quậy nó nói chứ đâu phải tụi tôi.
- Mấy ông cứ đổ tại rượu. Tôi chưa nghe thấy rượu nói bao giờ, chỉ nghe mấy ông nói không à.
Mọi người chợt im bặt vì nghe bên ngoài có tiếng ồn ào, rồi ngay lúc đó một người mới được đưa vào giường số 3. Người này là một thanh niên bị băng nẹp ở cánh tay. Người nhà đi theo là mẹ anh ta. Nhiều người ở các phòng bên cạnh cũng ùa sang. Họ xúm lại hỏi: “Sao vậy? Sao vậy?”. Người nhà quê sốt sắng quan tâm và cũng dễ bộc bạch. Bà mẹ nhìn anh con trai đang thiêm thiếp trên giường, kể đầu đuôi ngọn ngành:
- Nó mới hai mốt tuổi. Vợ nó đẻ con được bảy ngày thì bỏ đi...
- Sao lại bỏ đi? Có kình cãi gì không?
- Không kình cãi, không có chuyện gì hết. Tự nhiên nó bỏ đi không nói tiếng nào. Như là nó đã định đi từ trước hay sao nên nó không chịu cho con bú. Con nó nhỏ quá thành ra tôi phải nuôi. Tôi nói thằng này con coi liệu kiếm ai về ở cùng còn cơm nước con cái, chứ má già rồi chân tay đâu có mạnh được bao nhiêu nữa. Nhưng nó không chịu là không chịu. Nó nói con sợ đàn bà quá rồi. Tháng trước mưa nhiều nó không kiếm được việc làm...
- Nó làm gì?
- Làm mướn. Ai mướn gì làm nấy. Tháng trước mưa nhiều, có tới cả tuần liền nó không kiếm được việc làm. Nó sang hỏi mượn thằng anh nó bốn chục ngàn đồng mua sữa cho con. Tới hồi nó mang sang trả, thằng anh nó hỏi: “Sao có bốn chục? Còn tiền lời tao đâu?”. Thằng này mới nói có mấy chục ngàn đó mà lời lãi gì. Thằng kia nói mày tính xù hả, mày xù tao xả một nhát cho mày chết mẹ mày luôn chứ nói. Thằng này mới nói má tôi cũng là má anh sao anh nói vậy. Nói qua nói lại sao đó rồi thằng kia xách dao ra chém một nhát gần lìa cánh tay thằng này. Vô viện từ hồi hôm, bác sĩ nối gân bó xương lại tới giờ mới xong.
Câu chuyện làm không khí lắng xuống buồn bã. Người ta chia sẻ bằng cách đưa nước uống, đưa bánh mì cho bà, rồi mọi người tản dần.
Khuya. Hai bà vợ của hai bệnh nhân ở giường số 1 và số 2 lôi ghế xếp dưới gầm giường ra ngả lưng. Bà mẹ của bệnh nhân giường số 3 vẫn mở mắt ngồi như tượng bên chân giường cậu con trai. Đến gần sáng người ta thấy nước uống, bánh mì vẫn còn nguyên như bà chưa hề động tới.
Trời sáng từ lúc nào. Tiếng rao của những người bán đồ ăn sáng bắt đầu vọng đến các phòng bệnh.
Bỗng nghe trong phòng tiếng vị bác sĩ kêu to: “Bệnh nhân giường số 3 đâu rồi?”. Lúc này mọi người mới ngơ ngác: giường số 3 trống trơn. Anh chàng bị chém đứt cánh tay và cả bà mẹ anh ta nữa đã biến mất từ lúc nào. “Trốn rồi, trốn rồi!”. Vị bác sĩ như đã quen với cảnh này, lắc đầu: “Cái tay đó phải điều trị ít nhất một tuần đến mười ngày mới xuất viện được. Bỏ đi như vậy rồi sao?”. Cô y tá chia buồn: “Vậy là bác sĩ phải đền tiền thuốc?”.
Đến đây thì tôi rời bệnh viện. Khí trời buổi sáng và màu xanh lúa non trải rộng trước mắt làm tôi thấy dễ chịu hẳn. Ở một quán hàng ngoài cổng đã có một người đàn ông đang đứng mua rượu. Những hàng quán dạng này như mới dựng lên chủ yếu để bán cho cánh thợ đông đúc đang làm việc bên khu bệnh viện mới. Chủ quán là một người đàn bà đang vừa đậy nắp can vừa nói: “Ai nói sao chứ tôi thích đàn ông phải biết uống à. Đàn ông mà không biết uống nhìn tướng nó hãm tài bần tiện sao sao, không có phóng khoáng, phải vậy không?”.
Tôi lại nhớ đến câu nói đã nghe trong phòng hậu phẫu hồi đêm: “Mấy ông cứ đổ tại rượu. Tôi chưa nghe thấy rượu nói bao giờ...”. Đúng vậy. Tôi cũng chưa nghe rượu nói bao giờ, chỉ mới nghe người bán rượu nói. Những người bán rượu ở vùng này nghe đâu toàn là đàn bà con gái cả.


Truyện ngắn của VÂN HẠ

Hoa đào


TTCT - Mẹ ốm nằm viện thở dài: “Hồng ơi, con bàn với bố cho mẹ về. Bệnh của mẹ nằm ở nhà hay ở đây thì cũng thế cả. Tết nhất rồi!”.
Nó nói điều ấy với bố lúc ba bố con ngồi ăn cơm. Cu Tân cười toáng lên: A mẹ về, mẹ về... Bố nó mắng cu Tân: Cái thằng làm nhộn quá! Hồng bê mâm bát đi rửa. Khi vào bố đã rót sẵn cốc nước chè cho nó.
Nó hỏi: Bố có định đưa mẹ về không ạ? Bố nó trầm ngâm, cái điếu cày gác lên đầu gối. Ừ, hay là đưa mẹ về nhà ăn tết, Hồng nhỉ? Ra giêng có gì lại đưa mẹ lên! Khuôn mặt bố nó hốc hác, râu mọc ra có màu xám tro. Bố nhìn mãi cây cột gỗ ngoài hiên, cứ hỏi nó liệu có nên đưa mẹ về không, Hồng nhỉ. Nó quay mặt đi không dám nhìn bố, khẽ vâng.
Năm ngoái bằng giờ này mẹ hãy còn khỏe thế. Mẹ với nó đi cấy bàn tính chuyện tết nhất sắm sửa quên cả mệt. Mãi đến mùa hè mẹ mới phát bệnh. Cơm không ăn được, người gầy đi. Ra bệnh viện tỉnh khám bác sĩ bảo ung thư dạ dày. Mẹ khóc hu hu, khóc mãi. Thấy nó đi làm về quần áo bê bết, mẹ cũng ôm mặt khóc. Cu Tân đá bóng nhựa binh binh ngoài sân, mẹ ngồi trên giường nhìn ra chảy nước mắt. Khi mẹ yếu quá, bố nó đưa mẹ lên nằm ở bệnh viện huyện. Ngày nào cũng phải truyền nước biển. Cơm đem lên mẹ chỉ nhìn chứ chẳng mấy khi ăn được.
- Hồng ạ, phải thanh toán viện phí mới đưa mẹ về được. Mình nợ bệnh viện cũng nhiều rồi.
Nó im lặng không dám khóc, nước mắt cứ chực trào ra.
- Bố định đi vay để lo cho mẹ, nhưng tết nhất đến nơi cũng không tiện lắm.
- Vâng ạ!
- Cũng may cây đào nhà mình năm nay tốt quá. Bố định bán nó, người ta dạo này lại thích chơi đào vườn chứ đào lai lại không chuộng mấy.
Nó quệt nước mắt, ngẩng lên nói:
- Bố bán đi ạ. Con đi học thấy người ta bày đào ở chợ rồi.
Nó ra vườn dắt bò đi chăn. Đi ngang cây đào ngửi thấy thơm thơm. Ngước lên thấy lác đác vài đốm hoa đỏ, tươi ứa. Lá non ra rợp cành. Cây đào năm nay bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?
Bố nó đạp xe lên chợ huyện một vòng hỏi giá đào, giả làm khách mua. Cuối cùng nói thật với một ông già bán đào. Ông ta bảo đưa ông ta về xem thử ra sao. Để rồi đứng trước cây đào cổ thụ, ông già không kìm được thốt lên: Đẹp quá! Bố tươi nét mặt: Vâng, bác ạ! Như mọi năm tôi chẳng bán đâu...
- Vậy nhé, gửi anh tiền đặt cọc, ngày mai sẽ cho xe vào chặt.
Cây đào chắc cũng phải được dăm chục cành không ít. Một mình nó đứng một nửa vườn. Gốc mọc rêu xanh rì, cành vươn cao vượt quá nóc nhà ba gian. Ai nhìn cũng phải trầm trồ là sự lạ, hiếm thấy.
Nó cũng thấy lạ khi mà những cây khác trong vườn dù ngay trong mùa xuân cũng không có màu tươi tốt như thế. Cây đào chẳng phải được chăm sóc đặc biệt gì. Nó ở trong vườn bình đẳng với những cây khác. Có lẽ đó là do cái khí chất riêng của cây chăng?
Nó lựa lời báo cho mẹ biết là bố sẽ bán cây đào.
- Ông khách thích cây đào nhà mình lắm mẹ ạ. Ông ta không trả giá gì cả, bằng lòng ngay với giá bố đưa ra.
Mẹ nó gật đầu:
- Vậy là nó giúp nhà ta hai lần.
- Lần nào nữa hả mẹ?
- Hồi đó con chưa sinh ra. Nhà ta nghèo. Chú Sinh của con phải đi làm ăn xa, phụ việc ở tàu than. Không hiểu chuyện thế nào mà đánh bị thương ông chủ tàu. Chú bị bắt phải bồi thường một số tiền lớn. Bố con chạy vạy khắp nơi vẫn không đủ. Cũng đúng vào lúc giáp tết như thế này. Cuối cùng bố và ông bà nội bàn bạc bán cây đào. Người ta chặt cụt nó, tưởng không thể sống được. Nhìn thương lắm! Cái cây đó cũng như cuộc sống gia đình mình, cũng trải qua những lúc thăng trầm hoạn nạn. Không ngờ lần này nó lại vì mẹ...
Nói đến đây thì mẹ khóc.
Đêm. Bố với cu Tân ngủ ở nhà ngoài. Nó nằm ở gian buồng. Mọi khi có mẹ nữa. Nó nhìn ra ngoài cửa sổ, không thấy mặt trăng nhưng ánh trăng thì sáng cả khu vườn. Con mèo nằm ngoài màn ngáy khừ khừ. Nó khẽ mỉm cười. Cành đào hắt bóng lên cửa sổ, hơi rung rinh gió. Một lúc nó thiếp đi. Giấc ngủ bồng bềnh. Từ lâu, từ ngày mẹ ốm nó không có giấc ngủ nào như thế. Nó nhìn thấy nó trong giấc ngủ. Xiêm áo hồng tươi, tóc xanh mướt. Lòng hồ nghi có đúng thật nó không, bước đi sao mà nhẹ, như thể chính gió đã đẩy nó đi. Đi đâu? Nó mê đi một thoáng, chợt bừng tỉnh thì ra nó đang đứng dưới gốc đào nhà mình. Cây đào cao lớn, đẹp đẽ lạ thường. Ngọn chạm vào lớp mây trắng trôi lãng đãng cùng với hoa đào đỏ rải rác khắp bầu trời như máu.
Hôm sau ông già mua đào đến cùng với chiếc công nông đầu ngang và người thanh niên, có lẽ là con trai của ông già. Chiếc công nông đỗ ở ngoài ngõ. Bọn trẻ con, trong đó có cu Tân, hoan hỉ bu lại nhảy lên nhảy xuống cái thùng xe. Chúng nó làm náo loạn cả lên. Ông già đi ra dặn chơi khéo không ngã đấy nhé các cháu. Chúng nó kéo bè gào lên: Không ngã đâu ạ. Ông cứ yên chí ạ! Bố nó tỏ vẻ áy náy, ông già cười hiền lành: Trẻ con bảo giờ chả nghịch thế. Anh cứ kệ chúng nó chơi.
Nó lấy làm lạ sao ông già chưa sai người con chặt mà lại đứng trầm ngâm nhìn cây đào như thế. Ông không giống những ông già trong làng nó. Sắc mặt ông hồng hào, ánh mắt nhìn như có sức hút vừa từ bi vừa hào hiệp. Thần thái hơn người của ông lộ ra trong ánh mắt đó.
Bỗng ông cất giọng trầm trầm:
- Tôi là người đi lang bạt, biết nhiều nơi, mắt nhìn qua nhiều vật. Nhưng cây đào như thế này thì mới thấy lần đầu. Hôm qua nhìn cây đào về, đêm tôi nằm mơ thấy nó anh ạ. Cũng lạ! Cả đời nếu có nằm mơ cũng chỉ toàn những chuyện được mất, có bao giờ lại mơ thấy một cây hoa.
- Cây đào này từ thời cha mẹ tôi còn son trẻ trồng lên bác ạ. Nó sống với gia đình tôi rất lâu rồi. Tôi không muốn bán nhưng tại cảnh nhà nó câu thúc quá. Mẹ cháu nó ốm nặng gần một năm nay.
Nhìn thấy nó, ông già à lên, giọng hiền từ, cháu đó à, đúng là “nhân diện đào hoa tương ánh hồng!”.
Nó bất giác đỏ mặt.
- Cháu có biết câu thơ ấy có nghĩa là gì không? Gương mặt người con gái và hoa đào, hai dung nhan soi chiếu vào nhau cùng ánh lên sắc hồng. Thời nhà Đường có ông nhà thơ tên là Thôi Hộ đi du xuân trong tiết thanh minh, khi đến thôn nọ gặp cô gái đứng cạnh gốc đào. Ông đến xin nước uống, hai người sinh lòng cảm mến nhau. Năm sau ông quay lại tìm nhưng nhà cô gái đã cửa đóng then cài. Ông xúc động viết bài thơ này, xong dán lên cửa rồi đi.
Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu đông phong!
Nghĩa là ngày này năm trước trong cánh cửa này, gương mặt người con gái và hoa đào cùng rạng ánh hồng. Năm nay gương mặt cũ không biết về đâu. Chỉ thấy hoa đào vẫn cười với gió xuân như cũ.
- Rồi họ có gặp lại nhau không hả ông?
Ông già cười ha hả, giọng thanh sảng ấm áp:
- Ừ, rồi sau đó họ gặp lại rồi cùng sống với nhau đến răng long đầu bạc cháu ạ.
- Cùng với cây đào nữa phải không ông?
Bố nhìn nó hơi lạ lùng, nói với ông già, giọng u buồn khôn tả:
- Bác liệu xem có mua giúp được không ạ?
- Tôi mua chứ. Anh không tin tôi à. Tôi đã đem xe đến ngoài kia là tôi mua chứ. Lúc nãy tôi nói với anh về cái hồn hoa nên anh nghĩ tôi sợ phạm vào hồn hoa ấy mà không mua à.
Nói rồi ông ta quay sang người con trai nãy giờ ngồi im lặng dưới gốc cây, tay cầm cán rìu bóng loáng. Ra tay đi con. Ông già ra lệnh, giọng bình thản, ánh mắt dường như hướng lên những đám mây. Nó sực nhớ đến giấc mộng hồi đêm. Lòng băn khoăn về một vẻ đẹp đã bị đốn ngã trước khi kịp ra hoa.
Tết năm nay không có hoa đào.


Truyện ngắn NGUYỄN THỊ HẢI

vendredi 15 février 2008

Một cành mai

Hãy đem mai vàng vào sâu trong tim
(thơ G. Benn, "Mùa xuân cuối")
Viết cho Bê, Bi, Nil và Pa

Không phải nhánh mai của “Đêm qua sân trước một cành mai” (“đình tiền tạc dạ nhất chi mai”), cành mai thanh cao đạo vị mà từ cổ chí kim, văn chương thơ phú thiên kinh vạn quyển đã thường nói rất nhiều: Cành mai của tôi quê quê, không hiểu sao mỗi lần ngắm nó, tôi lại thấy như thế, dù nó… “Tây”, nó “Tây” mà quê. Nó “Tây” chỉ vì nó… ở bên trời Tây, không ở bên xứ mình, thế thôi.
Thật tình nó không “Tây” hay “như Tây” theo nghĩa người mình hay tấm tắc những chi sang đẹp đắt tiền, hiếm hoi, cao quý không có ở xứ mình. Nghe đâu nó còn có xuất xứ từ phương Đông nữa kia, trôi dạt thế nào mà qua tới tận bên Tây thì còn phải tra cứu cho ra.
Tôi cho nó “quê” vì nó mộc, không giấu giếm e thẹn hay kiêu sa trang đài như những bông hoa khác, nó đơn giản bình thường, tầm thường đến không ai để tâm chú ý (chỉ trừ nhà thơ hay ông thợ vườn thượng uyển muốn có đủ các loại hoa dưới trời), thân phận nó cũng từa tựa như phên dậu mồng tơi nơi vùng quê xa lắc, vướng vất một chút “sắc quê” của Nguyễn Bính khi nhìn cô hàng xóm.
Nhưng cành mai của tôi không phải ở bên láng giềng phía đông và trước khi hoa ấy là “cành mai của tôi”, thì nó đã nở tràn khắp trời Tây, từ thôn quê đến thành thị, bồng bềnh đâu đó vô định trên những con đường tôi đi qua, những khi tuyết giá cuối cùng bị đuổi hết, tháng Tư cáu kỉnh với mưa tuyết cũng vừa rũ sạch rừng cây trơ trụi. Một sáng ấm trời đi trớt qua vườn nhà ai - mấy mươi năm cũng vẫn cái cảm giác bất ngờ - loá mắt màu vàng óng ả.
Màu vàng thì giống “mai mình” y chang, tuy có chút chói lói hơn, rực rỡ lồ lộ chứ không nghiêm trang chừng mực như mai của cụ Tiên Điền, nhưng cũng đủ làm cho trái tim tha hương mấp máy nhớ mùa xuân quê hương. Có điều "mai Tây” của tôi thật sự lại nở rộ vào tháng Tư tháng Năm, mới là sai quấy.
Ai bên mình nghe noái chắc cũng mỉm cười, bảo mai của tôi là "mai lai” nếu không là… "mai xạo”; tháng Tư, tháng Năm cây mai bên nhà đã say nắng hè, lá xanh non đổi màu lục bạc trước khi ngả sậm màu cổ mai, nơi vườn mai sư bà Cát Tường hay vườn anh Lợi ở Huế, hay vườn của Vương Duy, Lý Bạch, Đỗ Phủ, có lẽ cũng như thế… ve đến núp hát vang, hoa đi từ lâu, xuân còn đâu nữa, chỉ là hè thôi.
Vả chăng bên Tây bên Mỹ dạo sau này hoa giả thịnh hành, vào dịp Tết, siêu thị châu Á bán vô số cành mai cành đào, cả cây cũng có, làm bằng giấy hay bằng vải, giống mai đào đến tưởng là hoa thiệt, lại thêm tiện lợi vì nó không tàn, làm chi mà có hoa mai vào thời điểm bên mình ăn Tết, bên ni lạnh đến tê người. Ai hoài hơi và có thì giờ mà chơi mai thiệt trong ngày Tết, cái ngày không có trên tấm lịch bên Tây! Và mọi người vẫn cứ lúc cúc đi đến sở làm từ sáng đến tối vào ngày mồng một Tết. Làm chi mà mai với mốt!
Vậy cái tên “mai” chắc là nhìn lạm. Nhưng thưa không. Nếu tính theo tiêu chuẩn thời gian thì cành mai của tôi nở đúng vào dịp Tết bên mình, chắc chắn đến 99%, trừ sự cố con người bỏ quên hay vô tình, dĩ nhiên không kể đến điều kiện thiên nhiên bất ngờ, còn ngoài ra nó chắc chắn đến nỗi, cái câu mà trong đó có một chữ con người thường coi nhẹ, “Có tình một chút thì có mai nở” trở nên chắc nịch như một định đề, nhưng để chắc chắn hơn xin thêm cho chữ “nếu” ở đầu câu. Và là mai thiệt, có nghĩa mai nở rồi tàn chứ không xơ cứng trơ gan đứng trong kho chờ dịp Tết khác được trưng ra.
Phải có tình và có một chút duyên chi đó, mai của trời Tây mới chịu nở cho riêng mình.
Cái duyên thì như một lẽ tình cờ, như Nguyễn Bính có “nhà nàng ở cạnh nhà tôi” với dậu mồng tơi xanh rờn thuở nào, như tôi gặp may biết được sự hiện diện của loài hoa ấy ngay từ khi chân ướt chân ráo đi đến xứ người.
Tôi gặp cành mai ấy lần đầu, khi trời Tây còn ủ dột trong sương mù và mưa tuyết. Thời ấy nói tiếng Đức chưa rành, còn lớ ngớ chưa biết đâu là đâu, chỉ biết lạnh.
Dịp Tết bên mình thường rơi vào cuối tháng Giêng đầu tháng Hai bên Tây, trời cóng rét dữ, cây cỏ trơ trụi cứng còng, đừng nói đến hoa, vạn vật như chìm trong cõi chết. Trong khung trời lận đận tuyết phủ sương che ấy, tấm thiệp chúc Tết lấp lánh một cành mai vàng trên nền giấy hoa tiên đỏ từ quê nhà rơi vào tay. Tấm thiệp đơn sơ chứ không lòe loẹt rực rỡ như thiếp chúc Tết ngày nay, nhưng đoá hoa lung linh sương đọng bỗng làm tim ngưng vài giây vì nhớ, nhớ Tết ở nơi quê, nhớ không khí ấm cúng gia đình, nhớ mai vàng huyền hoặc trong khói pháo tống cựu nghinh xuân…
Tôi mang tấm thiệp vào lớp học tiếng Đức khoe với mọi người. Dịp hay trong giờ đàm thoại, ông thầy bắt sinh viên đến từ các nước kể về phong tục của nước mình. Tấm thiệp đã cứu tôi có đề tài hay để nói: Tết Việt Nam.
Không biết dạo ấy tôi có sa đà quan trọng hoá cành mai ngày Tết hay không. Có lẽ! Ai xa quê mà không sa đà khi nói chuyện quê hương? Cũng không nhớ mình có chảy nước mắt nhớ nhà, mít ướt?
Hai tuần sau đó, đúng vào mồng một Tết, tôi nhận được một cành hoa gửi đến, na ná như mai, cành khẳng khiu màu nâu đất (lại giống cành đào hơn mai), hoa bốn cánh màu vàng tíu tít. Tuy nhánh cành không cốt cách khổ hạnh thanh cao, hoa không ung dung quí phái như mai lạnh vườn xưa, nhưng màu vàng thuần chất làm sáng gian phòng nhỏ hẹp, bất ngờ ra vẻ xuân. Cái Tết đầu tha hương như nhẹ đi một chút cô độc.
Từ đó thành ra duyên nợ với loài hoa mà thoạt đầu, tên hoa vừa nằm trên chót lưỡi là đã bị quên ngay, như một thoáng gió phớt nhẹ chuyền qua kẽ răng rồi mất tăm. Tôi tạm gọi nó là “mai nhớ”. Dù bôn ba nay đây mai đó nhiều năm, chuyển nhà đi nhiều nơi, hầu như hoa vẫn nhớ theo người. Nó “quê” là ở chỗ ấy, dễ dãi mà trung thành vì nó mọc khắp nơi, trong rừng, trong công viên, nơi hàng rào hàng xóm, trên đường đi dạo, bên cạnh nhà. Nó là loài hoa bụi, mọc sung mãn, mọc um tùm, không cần phải chăm nom tưới bón cho nhiều. Khó mà quên nó, nhưng đón nó vào nhà trong dịp Tết dễ mà không dễ, bởi trái mùa hoa.
Tôi đã nói rồi, cần có chút tình, không phải tình yêu tình phụ kiểu “người yêu ta xấu với người, yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau” oái ăm, mà là “chí tình”, có nghĩa chịu thương chịu khó, hiểu thấu tính khí của hoa, gia công học hỏi tìm tòi từng kinh nghiệm nơi bạn bè rành phong thổ, yêu thiên nhiên, rồi tự mình ra sức chân thành với tâm vô ngại. Ui chao nói dễ mà không dễ chút nào.
Đừng ngại mà cũng đừng chần chờ, - ngại lắm chứ khi đứng trong nhà nhìn tuyết cao hơn thước ngoài vườn, còn chần chờ thì như là lý đương nhiên vì có chi gấp gáp đâu, Tết có thể lặng lờ qua mà chẳng ai biết, nỏ ai hay - hình như mỗi năm vào dịp ấy tôi thường giật mình nhắc tôi hơn ai hết đừng quên mà lỡ độ mai khai vào dịp Tết bên mình nơi cái xứ không có ngày Tết ấy. Nhiều sớm qua mau, nhiều tối chuồn thẳng lặng lờ đến khi nhớ ra thì hỏng.
Cỡ chừng hai tuần trước Tết ta, trước cữ trà sớm, dù cho tuyết ngập quá đầu gối, cũng phải tự thắng cơn ngại ngùng, lội tuyết mà đi ra vườn tìm bụi mai đang cóng buốt trong sương Chọn cành nào có nhiều nhánh con sây nụ, dù nụ hoa còn ẩn kín trong cành, người sành thì biết. Cành càng sần sùi không trơn tuột sẽ càng mang nhiều hoa. Cành đem vào nhà còn lạnh lắm, không vội, phải để cho nó hoàn hồn trong phòng, tỉa bớt những nhánh khô trước khi cắm vào bình với nước âm ấm, ngập miệng bình, tùy theo bình mà chọn độ dài của cành hay tùy theo cành mà chọn bình. Rồi chờ… Chỉ có thế thôi.
Tôi đã viết một lần đâu đó, biết chờ là một nghệ thuật. Cũng đã từng nghe những câu chuyện chờ hoa quỳnh như huyền thoại hoa nở. So với quỳnh hoa cao xa siêu thoát như tiên, mai của tôi mới thật là quê mùa cục mịch, ấy thế mà cuộc chờ mai nở cũng có nhiều điều tương tự như một thứ “đạo chờ hoa” hay một công án cho chính người chờ hoa.
Thoạt tiên là nỗi nghi mơ hồ, không biết mai có nở thật cho mình đúng dịp, dù kinh nghiệm quá khứ “đầy mình” đã chắc chắn là như thế. Noái là lý thuyết chứ không nghi sao được khi hiện tiền trước mắt những cành nâu gầy guộc khô khan đứng lơ ngơ trong lộc bình. Rồi lo sợ dấy lên khi không thấy một dấu hiệu nào nơi cành hoa ấy. Rồi sự nóng lòng hàng sớm mai, việc đầu tiên là đến quan sát từng li những dấu vết u lên sần sùi trên cành hoa trong khi châm thêm nước vào bình. Sự bí nhiệm vờn quanh những nhánh cây làm tăng nỗi lo âu, lo nhất là hoa tịt ngòi thì khốn. Rồi một lúc nào đó, bỗng bắt gặp mình khấn vái cầu cho hoa nở với lời chí thành. Và trong tất bật bận rộn của một ngày có lúc thấy chân mình gấp gáp về nhà xem sao. Rồi có đêm không ngủ, cầu nguyện cho hoa nở hết. Dạo sau này có lúc đâm ra bói toán, thay vì bói Kiều, tôi bói hoa cho năm mới, nếu hoa nở hết là năm hên… Vẫn y nguyên những hồi hộp rối bời không chữa được trong cuộc chờ…
Cho đến ngày thứ tám, vảy cây nứt ra và lú nhú xuất hiện những búp xanh với tí chấm vàng trên đầu. Từ giây phút ấy sự đợi chờ như được đền đáp còn hơn mình tưởng. Không có gì ngăn được nữa, những nụ vàng mơ như những chiếc kén bò tràn trên cành, thoạt tiên nhón gót mảnh khảnh run run chưa vững. Nhưng không còn lâu, bỗng như được hoá thân, bốn cánh hoa màu vàng sáng bật ra rộn ràng đồng loạt đến kinh ngạc sững sờ.
Không nở thì thôi, chứ khi nở thì hết mình, không có búp nào bỏ sót, ngay cả nơi chót vót của cành, tưởng không còn sức, thế mà nụ hoa cũng bắn ra mạnh dạn, chỉ chừa hai ngọn lá non duy nhất ở đầu cành. Năm nào cũng thế, cành mai nở hết lòng, chân thành hồn nhiên, đem lòng tin trở lại cho tôi.
Mẹ tôi cười “ừ há, cũng giống mai thiệt bên nhà”, con tôi reo “bông đẹp quá” khi tôi sửa soạn thắp nến, dâng hoa cúng Phật vào ngày mồng một Tết. Năm nào cũng thế. Riêng năm ni thì…
Mưa bấc sáng 30 Tết vẫn còn bay, chén trà thơm hương mộc tôi đang uống ở gần Ngự Viên, nơi Nguyễn Bính đã từng “ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên”. Tôi thì không nhớ Ngự Viên, trong không khí rộn ràng đón Tết của “người mình đay” (tiếng Huế), giữa những rừng mai thiệt được uốn eo đầy mỹ thuật cầu kỳ và muôn hoa đua sắc trong chợ Tết, tôi nghe nhớ chi lạ một cành mai – mà hình như suốt mấy mươi năm chưa bao giờ nó biết nó là mai – ở xứ người.



Tôi muốn gọi nó một lần thật rõ bằng tên của nó: Forsythien [1] , gửi vào trong gió Ngự Viên.


Thái Kim Lan
Huế 30 Tết Xuân Mậu Tí



© 2008 talawas

[1]Forsythien: còn có tên “Goldflieder” (hoàng đinh hương) là một loại hoa vàng bốn cánh tương tự như hoa mai, cây mọc thành bụi rất được ưa chuộng để làm hàng rào ở châu Âu, hoa nở trước khi có lá, giống loại mai Á đông. Cây cũng có nguồn gốc từ châu Á.

jeudi 14 février 2008

16 năm theo đuổi một giả thuyết

Giả thuyết về mộ Quang Trung Hoàng đế tại Bình Thuận - Hàng trăm năm qua, việc lăng mộ Hoàng đế Quang Trung nằm ở đâu vẫn là điều bí ẩn với nhiều giả thuyết.
Theo sử sách, Hoàng đế Quang Trung băng hà năm 1792 thì mười năm sau cơ nghiệp Tây Sơn đã mất vào tay Nguyễn Ánh. Năm 1802, Nguyễn Ánh sai quật mộ vua Quang Trung ở lăng Đan Dương, giã xương ra trộn với thuốc súng bắn để trả thù.

Một ngôi mộ cổ đã trở thành phế tích ở Hàm Thắng.

Bức tượng võ tướng bên ngôi mộ cổ

Thế nhưng có nhiều giả thuyết cho rằng đó chỉ là mộ giả. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân thì di hài vua Quang Trung hiện vẫn còn dấu tích ở Dương Xuân, Huế. Ông Trần Viết Điền - giảng viên Trường đại học Sư phạm Huế thì lại cho rằng lăng Ba Vành ở đồi Thiên An, Huế mới là nơi có mộ vua Quang Trung. Trong khi đó, tại Bình Thuận có đến hai địa điểm mà nhiều người tin rằng đó mới chính là nơi có mộ của Quang Trung Hoàng đế. Lúc đó, Hoàng hậu Ngọc Hân bí mật đưa di hài chồng mình vào chôn ở đây nhằm tránh việc triều Nguyễn trả thù. Người tìm ra, bảo vệ giả thuyết này cho đến khi qua đời vì bạo bệnh là cô Võ Thị Minh Liêm, một giáo viên Anh văn ngụ ở Hàm Thắng, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận.
Sinh năm 1956, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, cô giáo Minh Liêm cứ ngỡ sẽ gắn chặt đời mình vào nghề dạy học ở Trường THCS Bông Sao (quận 8, TP.HCM). Nhưng rồi trong một lần về thăm quê, được cha là ông Võ Hồng cho biết ông phát hiện được một ngôi mộ cổ đặc biệt ở núi Cố thuộc phường Phú Hài, Phan Thiết, cuộc đời cô giáo trẻ này rẽ sang bước ngoặt mới. Sau khi ông Hồng qua đời (1990), cô giáo Minh Liêm âm thầm vào cuộc. Cô tìm đến ngôi mộ cổ có pho tượng võ tướng to như người thật, có khắc mấy chữ Hán trên bụng như cha mình mô tả. Ở đó có nhiều ngôi mộ cổ tề tựu xung quanh, trông như hình voi phục. Cô cảm nhận khuôn mặt của bức tượng ở ngôi mộ cổ có nhiều nét giống chân dung vua Quang Trung được lưu truyền. Sau đó tại gần ngôi mộ cổ, một người dân là ông Võ Bách Chiến ở thôn Thắng Hòa (Hàm Thắng) đào ao nuôi tôm phát hiện được bộ xương voi, tương truyền như voi chiến của nhà vua. Cộng với hàng loạt dữ liệu khác mà cô giáo Minh Liêm đã phải đón xe ôm đi hàng trăm cây số ra Cù lao Câu (Tuy Phong), vượt biển ra tận đảo Phú Quý để khảo sát, tìm hiểu, cuối cùng cô khẳng định Hoàng đế Quang Trung được chôn cất bí mật tại khu vực Hàm Thắng. Theo cô, Hoàng hậu Ngọc Hân đã nghe theo lời tiên đoán hậu vận ngắn ngủi của nhà Tây Sơn qua lời của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp nên đã cùng các tùy tướng thân tín đưa di hài nhà vua xuôi về Nam. Cũng theo các thuyết trình của cô giáo Minh Liêm thì người chủ khu đất có ngôi mộ tọa lạc là người gốc Bình Định, vùng đất mà nhà Tây Sơn dấy nghiệp. Người vợ ông chủ vườn là dân đảo Phú Quý mà tương truyền là hậu duệ của quân Tây Sơn chạy dạt vào tránh các cuộc truy bắt của quan quân triều Nguyễn.
Cô giáo Minh Liêm cũng cho rằng năm 1802, khi vua Gia Long “tận pháp trừng trị” nhà Tây Sơn thì vua Quang Trung đã mất đúng 10 năm và nhà Tây Sơn đủ thời gian để đưa di hài vua xuôi về Nam Trung bộ mà Bình Thuận là vùng đất mà nhà Tây Sơn thông thạo như lòng bàn tay. Tuy nhiên, điều bất ngờ là sau đó bức tượng võ tướng bên ngôi mộ cổ lại đột ngột biến mất!
Không chồng, con, dạy học được bao nhiêu tiền, cô giáo Minh Liêm lại đổ hết vào các nghiên cứu. Suốt từ năm 1990 đến 2006, cô đã đơn thân chạy đi chạy lại như con thoi ghi chép rồi gửi thỉnh nguyện gần như khắp các ban, ngành có trách nhiệm về giả thuyết của mình.


Hành trình không đơn độc

Ông Trương Văn Thạnh, thầy giáo cũ dạy sử, địa của cô Liêm từ những năm lớp 11, 12 ở Trường Phan Bội Châu (Phan Thiết) kể: “Đó là cô học trò hết sức nhiệt tình và nhiệt tình đến tội nghiệp!”.
Bà Võ Thị Tuyết Hiếu, chị em song sinh với cô Liêm, cũng là một giáo viên Anh văn, cho biết trước khi qua đời mấy năm, nghe tin ở Huế có hội thảo Phú Xuân-Thuận Hóa với nhiều giáo sư sử học đầu ngành, cô Liêm đã chạy vạy khắp nơi kiếm tiền ra Huế xin được tham dự. Lần đó cô Liêm chỉ được dự chứ không được phát biểu. Cô chỉ còn biết tranh thủ trao đổi “hành lang” với các giáo sư trong giờ giải lao. Theo lời kể lại thì lần đó giáo sư Phan Huy Lê đã rất chăm chú lắng nghe giả thuyết của cô, đề nghị cô cung cấp các bằng chứng khoa học để có thể đề xuất mở cuộc khảo sát. Tuy nhiên, bằng chứng đáng nói nhất là bức tượng đã bị mất!
Cũng trong lần hội thảo tại Huế, cô Minh Liêm đã trao đổi với nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân về giả thuyết của riêng mình. Bà Hiếu buồn bã: “Tội nghiệp em tôi, suốt 16 năm trời đeo đuổi giả thuyết, nó xem như đó là duyên nghiệp”. Vì duyên nghiệp và vì muốn giải mã những ngôi mộ cổ ở Hàm Thắng, sau đó cô Liêm lại tiếp tục miệt mài vừa dạy vừa thu thập tư liệu, rồi bằng mọi giá tiếp cận rất nhiều giáo sư, tiến sĩ để thuyết trình. Tuy nhiên, cô chỉ nhận được những lời động viên, lời hứa chứ không có một xúc tiến khảo sát nào.



Ngôi mộ có hình voi phủ phục, giờ chỉ còn như thế này do bị đào bới lén lút.

Thế nhưng có một lần tưởng chừng người đàn bà ấy đã không đơn độc. Người chị song sinh của cô Liêm cho biết khoảng năm 2004, giáo sư Đỗ Đình Truật đã từ TP.HCM cùng với sáu sinh viên khảo cổ đến Hàm Thắng. Họ ở đây hơn một tuần và đo vẽ một số ngôi mộ cổ có hình voi phục. Sau khi những người này rời khỏi Hàm Thắng một thời gian ngắn, các ngôi mộ cổ bị đào bới lén lút vô tội vạ, trở thành phế tích đến nay và câu trả lời vẫn còn bỏ ngỏ...
Đầu năm 2006, một cơn bệnh nan y đã quật ngã người nữ giáo viên đầy nhiệt huyết này. Nằm trên giường bệnh, cô vẫn đau đáu về cuộc hành trình 16 năm của mình chưa có hồi kết. Tháng 3-2006, trước khi xuôi tay, cô đã nắm tay người chị song sinh của mình trăng trối: “Tài liệu, hồ sơ em đã chuyển hết cho giáo sư Phan Huy Lê và Bảo tàng Quang Trung tại Bình Định rồi. Tiếc là em không còn sống để tìm ra sự thật vì có thông tin ấn tín của nhà Tây Sơn được đúc vào năm 1791 (một năm trước ngày vua Quang Trung mất - PN) do một đội cấm quân giữ có tin đã được tìm thấy trên đất Bình Thuận...”.



PHƯƠNG NAM
(PL TPHCM)

Ấn tín nhà Tây Sơn và ngôi mộ thần thái giám

Chỉ cách nơi được coi là lăng mộ của vua Quang Trung không xa lại có ngôi mộ của một thái giám, trong khi Bình Thuận chỉ là một phủ.
Còn các thái giám đều sống và khi qua đời đều được chôn ở kinh thành. Trong hành trình 16 năm lần theo giả thuyết tìm mộ Quang Trung Hoàng đế tại Bình Thuận, cô giáo Minh Liêm đã tìm ra nơi đồn đại có ấn tín của nhà Tây Sơn tại Bình Thuận.


Cổng vào ngôi mộ thần thái giám.

Hành trình dang dở

Theo bà Võ Thị Tuyết Hiếu - chị song sinh của bà Võ Thị Minh Liêm thì trước ngày mất, bà Liêm nhận được thông tin có một ngôi đình tại Vĩnh Hảo, Tuy Phong (Bình Thuận) hiện đang giữ một ấn tín nhà Tây Sơn. Ấn tín này được đúc năm 1791, tức một năm trước khi Quang Trung Hoàng đế qua đời do một đội cấm quân nhà Tây Sơn giữ. Ngay lập tức bà Liêm từ TP.HCM về Hàm Thắng và ra Tuy Phong.
Mấy ngày sau trở về, bà Liêm buồn bã kể với người chị rằng người cho là đang giữ ấn tín kiên quyết không cho xem hoặc mô tả gì để bà ghi chép lại. Sau đó, trước sự kiên trì thuyết phục của bà Liêm, người này cho biết rằng cha ông của ông ta kể lại ấn tín nhà Tây Sơn đã được chôn đâu đó trên vùng đất Vĩnh Hảo! Chính chi tiết này đã làm bà Minh Liêm nhen nhóm lên hy vọng và bỏ công tìm hiểu về đội cấm quân nhà Tây Sơn hoạt động trên vùng đất Bình Thuận. Tuy nhiên, căn bệnh hiểm nghèo đã không cho bà còn cơ hội và cướp đi hoài bão cùng với niềm tin mãnh liệt của bà về lăng mộ Quang Trung Hoàng đế tại Bình Thuận.
Theo lời chỉ dẫn của người thầy dạy sử của bà Minh Liêm, chúng tôi tìm đến được ngôi mộ của một vị thái giám. Đáng nói là ngôi mộ này nằm cách nơi giả thuyết có mộ vua Quang Trung chỉ non cây số. Bình Thuận chỉ là đơn vị hành chính cấp phủ, trong khi các thái giám (là người được tuyển để phục vụ trong tam cung lục viện và khi mất thường được chôn chung trong một nghĩa trang ở kinh đô như nghĩa trang thái giám ở chùa Từ Hiếu (tây nam thành phố Huế). Chính vì chưa giải thích được vấn đề trên nên rất nhiều người ở Bình Thuận vẫn nghĩ rằng ngôi mộ vị thái giám đã tạo thêm một cơ sở nữa để khẳng định mộ vua Quang Trung được chôn bí mật đâu đó tại đây. Có một đồn đại rằng vị thái giám này cưỡi ngựa theo phò di hài vua Quang Trung xuôi vào Bình Thuận, đến Phú Thiện Xuân (một địa danh thuộc huyện Hàm Thuận Bắc gọi như tên Phú Xuân mà vua Quang Trung đóng đô trước đây) thì bị truy sát, chặt đứt đầu. Con ngựa bạch dù kiệt sức vẫn chở vị thái giám mất đầu chạy đến đây, trước là làng Sơn Thủy, xã Sơn Hải thì ngã quỵ. Từ đó những người dân địa phương sau khi chôn cất cho vị thái giám còn đúc một con ngựa bạch to như ngựa thật nằm phủ phục, đầu hướng về ngôi mộ (?).

“Mả ông vua”

Một ngôi mộ khác ở xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc cũng được nhiều người tin rằng đó mới chính là mộ của Quang Trung Hoàng đế. Trước đây, bà Minh Liêm cũng đã khảo sát ngôi mộ này. Theo đó, hoàng hậu Ngọc Hân do sợ triều Nguyễn trả thù nên không thể đặt bức tượng cạnh mộ vua được vì như thế chẳng khác gì “lạy ông tôi ở bụi này”. Do sự bí mật nên mộ vua phải được an táng kín đáo trong khu rừng già và phải cách xa biển và các khu dân cư.
“Mả ông vua” được người dân ở Hàm Thắng truyền miệng nhau qua nhiều đời nay. Do cách phát âm nên gọi trại thành “mả ông Duông”. Cái duy nhất để biết đây là ngôi mộ cổ chỉ là một cọc gỗ đã bị thời gian bào mòn và bám đầy rong rêu. Cây cột gỗ được chạm trổ khá sắc nét và có các “ngàm” dùng để ráp các “xiên”, “trính” như làm nhà gỗ vòng quanh ngôi mộ. Điểm đặc biệt là trên mộ mọc một loại cỏ khá lạ mà theo nhiều người dân sống gần đó cho biết trâu, bò không dám đến gần! Quả thật, loại cỏ trên mộ là cỏ khá lạ mà chúng tôi đã chia nhau tìm quanh đó đến đỏ mắt vẫn không thấy. Lá cỏ mọc cách, hình lưỡi mác, rất bén nên trâu, bò không thể ăn được. Bà Tư nhà sát bên “mả ông Duông” cho biết ngôi mộ này đã tồn tại từ trước khi bà dọn nhà về ở. Dù chưa rõ xuất xứ nhưng mỗi năm đến dịp Thanh minh nhiều người dân địa phương cũng đến thắp nhang cúng kính. Tuy nhiên hiện nay do thời gian, ngôi mộ gần như bằng phẳng và vật chứng duy nhất chỉ là cây cột gỗ nằm trơ gan cùng tuế nguyệt.

Con ngựa được đúc to bằng ngựa thật phủ phục, đầu hướng về phía mộ vị thái giám.


Loạt bài này chỉ nêu lên một giả thuyết mới về di hài của Quang Trung Hoàng đế, cần được các sử gia, các nhà chuyên môn có một khảo sát toàn diện. Có thể không tìm được di hài của vua Quang Trung thì cuộc khảo sát cũng mang lại các tài liệu khảo cổ đối với các ngôi mộ cổ và những kiến thức mới về lịch sử của vùng đất Bình Thuận. Nhiều người lo ngại khả năng cây cột gỗ tại “mả ông Duông” cũng sẽ biến mất như bức tượng võ tướng ở Phú Hài thì thật là đáng tiếc.



PHƯƠNG NAM
(PL TPHCM)


Phu Chu thêm :

Từ năm 1928, một học giả người Pháp ở Huế là L. Cadière, chủ bút tập san “Đô thành hiếu cổ”, đã đặt vấn đề về lăng mộ Hoàng đế Quang Trung ở lăng Ba Vành thuộc làng Cư Chánh, Huế. Đến năm 1941, ông Nguyễn Thiệu Lâu - giáo viên sử trường Quốc học Huế cũng khẳng định lăng Ba Vành chính là mộ Hoàng đế Quang Trung. Đến năm 1974, có một đoàn khảo sát lăng Ba Vành với kết luận: Lăng Ba Vành không phải là mộ Quang Trung. Sau năm 1975, ông Nguyễn Hữu Đính, nguyên Chủ tịch Ủy ban Mặt trận TP Huế, sau khi nghiên cứu đã khẳng định: Lăng Ba Vành được triều Tây Sơn ngụy trang để phòng nguy cơ Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân, tàn phá lăng mộ Nguyễn Huệ để trả thù. Năm 1987, ông Trần Viết Điền (trường ĐHSP Huế) lại cho rằng lăng Ba Vành chính là lăng mộ của Hoàng đế Quang Trung. Thế nhưng giả thuyết này bị bác bỏ vì theo giới sử học thì lăng Ba Vành là của Ý đức hầu Lê Quang Đại, một vị quan dưới triều chúa Nguyễn Phúc Khoát, chết vào đầu năm 1746.
Riêng nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân lại đưa ra một giả thuyết hoàn toàn mới. Theo ông, vị trí phủ Dương Xuân của các chúa Nguyễn và cung điện Đan Dương sau này chính là Sơn Lăng của Hoàng đế Quang Trung. Còn bà Võ Thị Minh Liêm lại cho rằng lăng mộ vua Quang Trung chắc chắn nằm ở vùng đất Hàm Thắng hoặc Phú Hài, Bình Thuận. Ngoài ra còn có hàng loạt giả thuyết khác của rất nhiều người nữa...