jeudi 17 février 2011

Cuộc nổi dậy trên quảng trường Tahrir và « sự đồng thuận Bắc Kinh »


Le Monde| 17.02.11 | 13h06 • Mis à jour le 17.02.11 | 17h09

sponsorisés par

Trong những cuộc hội thảo về toàn cầu hóa, từ này sẽ có một « trước » và « sau » Cuộc đại nội dậy trên quảng trường Tahrir. Không chỉ nói đến một điểm quy chiếu về mặt lịch sử. Đó là một ngày tháng trong đó loan báo như một trong những cuộc chiến ý thức hệ lớn nhất của thế kỷ : cuộc tranh cãi của những hình thức. Giải thích

Từ vài năm qua, người ta ca tụng với sự chán ngán cái gọi là « sự đồng thuận Bắc Kinh ». Đó là một công thức lịch sự nhằm mô tả những chế độ vừa ca tụng chủ nghĩa tư bản vừa theo chế độ độc đảng. Ta thấy ở đây dây cương thắng cuộc cho những nước ở Phương Nam, bí quyết cất cánh về mặt kinh tế và xã hội, bí quyết của sự gia nhập vào nền kinh tế toàn cầu hóa. Ví dụ đến từ Trung Quốc – trong tuần này đã trở thành nền kinh tế thứ hais au Hoa Kỳ trên thế giới. Ngay cả những người Trung Hoa luôn giữ riêng để « bán » mô hình của họ, thì « sự đồng thuận Bắc Kinh » không ngăn việc tạo nên những người ngang hàng.

Ở Nga, Vladimir Poutine lấy hứng khởi, mà không nói đến, nhưng mô hình này cũng vươn dài qua một số nước ở Phi Châu. Nó đã quyến rũ ê-kíp của Mahmoud Ahmadinejad ở Iran. Nó được copy bởi những nước khác ở Á châu và nơi khác. Phương trình chiến thắng trong mọi trường hợp cư trú trong tổ hợp nổi tiếng của Trung Quốc : doanh nghiệp tự do và chuyên quyền chính trị. Cứ thế mà tiến ! Đó cũng là điều mà người ta cũng đã nghĩ đến ở Ai Cập, ít là cho đến khi điều bất lịch sự xảy ra tại nơi xinh đẹp của mùa đông êm dịu bên bờ sông Nil : cuộc Đại Nội Dậy trên quảng trường Tahrir.

« Sự đồng thuận Bắc Kinh » không chỉ được ca ngợi ở Phương Nam. Nó cũng được tìm thấy nơi các chuyên gia ở Hoa Kỳ và Châu Âu để tưởng tượng ra rằng nó sắp cai trị thế giới trong thế kỷ này. Thành ngữ này có lẽ là của một người Mỹ, Joshua Cooper Ramo. Tác giả và nhà tư vấn, Cooper Ramo đã đặt ra thành ngữ này vào năm 2004 để đối lại với điều người ta gọi vào cuối những năm 1980 « sự đồng thuận Washington » : chính phủ dân chủ nhất có thể, doanh nghiệp tự do và mở cửa ngay lập tức các biên giới cho hàng hóa và vốn của toàn thế giới – đó là điều mà Quỹ tiền tệ quốc tế (FMI) và nhất là Quỹ dự trữ liên bang của MỸ tự hào như mô hình thắng lợi cho những nền kinh tế ở phương Nam và những nền kinh tế đổi mới phi-sô-viết của Nga và Đông Âu.

Trong dòng những thành công mà Trung Quốc thu được, « Sự đồng thuận Bắc Kinh » đã chiến thắng cách chính đáng. Trung Quốc khẳng định như một đối thủ kinh tế và chẳng bao lâu nữa là quân sự đối với Hoa Kỳ, mà còn như một kẻ cạnh tranh về mặt ý thức hệ : Trung Quốc có soft power (quyền lực mềm) riêng của mình về mặt chính trị - khả năng hấp dẫn của Trung Quốc.

Những nước ở Phương Nam, mô hình của Trung Quốc thí chốt cho « sự đồng thuận Washtington » ; có vẻ như thích ứng tốt hơn dân chủ « theo kiểu Tây Phương » ; nó đã phản ứng tốt hơn với cuộc khủng hoảng 2008 – 2009 do đối thủ gây ra. Được chuyển đến Ai Cập, « sự đồng thuận Bắc Kinh » được trình bày như thế này : chủ nghĩa tư bản mang đậm tính moubarak (mật vụ có mặt khắp nơi).

Chuyên chế chính trị phục vụ cho một chủ nghĩa tư bản nơi Nhà nước vẫn còn là tác nhân kinh tế ưu trội chống lại nền dân chủ và doanh nghiệp tự do mà ta thực hành ở Phương Tây… Cuộc chiến ý thức hệ của thế kỷ. mô hình chống lại mô hình. Trong những trường hợp đó, luôn có một người Mỹ để đánh cá chống lại phe của mình và tuyên bố sự sụp đổ không thể tránh khỏi trong một tác phẩm vang tiếng. Về điểm này, người đó tên là Stefan Halper.

Cựu ngoại giao trở thành giáo sư ở Cambridge (Anh), Halper xuất bản vàn năm 2010 một khảo luận chói sáng : Sự đồng thuận Bắc Kinh hay làm sao mô hình chuyên chế của Trung Quốc chi phối thế kỷ XXI (Basic Books, New York). Giả thuyết chính : Trung Quốc chứng minh rằng một hệ thống độc đảng và tư do doanh nghiệp không tự do công cộng có thể là giải pháp thay thế đứng vững và mạnh mẽ cho mô hình nước Mỹ trong việc điều hành chính phủ bởi các công dân.

Ta ở đó khi, một năm sau, những thanh niên trên quảng trường Tahrir đã đến làm rối loạn sự đảm bảo của giáo sư Halper và những người khác, để ồn ào đưa ra quan điểm của họ. không chắc hoàn toàn để « sự đồng thuận Bắc Kinh » là công thức huyền nhiệm. Cũng không chắc bảo đảm sự chắc chắn về mặt chính trị cho đến cùng. Không chắc cho chủ nghĩa chuyên chế chính trị, khi giả sử rằng luôn dễ dãi cho sự phát triển kinh tế, thực hiện hạnh phúc cho nhân dân. Những thành tích của chế độ độc tài Ben Ali hay Moubarak đều có những giới hạn của nó.

Thẳng thắn mà nói rằng Trung Quốc không thực hiện nhiệt tình lối kéo theo mình trong mô hình của họ. họ xuất khẩu những sản phẩm và dịch vụ, không xuất khẩu những ý niệm. sự thẳng thắn này đưa đến ghét bỏ những sự so sánh giữa các nước khác Trung Quốc và Ai Cập. nhưng hoàn toàn là triệu chứng mà Cuộc Nội dậy trên quảng trường Tahrir đã gây ra cách xử lý tối thiểu trong giới truyền thông Trung Quốc : cấm báo chí lấy lại những bản tin tổng kết khác với cơ quan truyền thông chính thức của Tân Hoa Xã ; Kiểm soát chặt chẽ điều có thể được nói trên internet. Cũng như giới thanh niên Ai Cập là những người đem lại thông điệp hơi quá bãi bỏ hương vị của những nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Trong chế độ chuyên chế khác của thời đại, nước Nga của Poutine, báo chí tự do hơn. Cái nhìn mà nó hướng về quảng trường Tahrir cũng rất lý thú : « Bất chấp tiếng ồn ào gây ra trong năm ngoái bởi các nhà phân tích chính trị về sự đánh mất sự ảnh hưởng của mô hình dân chủ Tây phương và trên sự trổi dậy của mô hình chuyên chế (hiểu là Trung Quốc, Singapour, v.v…), The Moscow Times đã đặt xã luận, lịch sử không nằm về phía chế độ chuyên chế, vì nó, khi thiếu định nghĩa tính hợp pháp, thì không ổn định bởi bản chất. »

Nhật báo này tiếp : « Những cuộc biểu tình của những người về hưu vào năm 2005 và những cuộc biểu tình cách nay một năm ở Kaliningrad là những lời cảnh cáo cho triều đại của Vladimir Poutine. (…) Hy vọng rằng Kremlin sẽ biết rút ra những bài học từ « cuộc cách mạng hoa nhài » ở Tunisie và những cuộc phản kháng ở Ai Cập trước khi trở nên không quá trễ ». Bài xã luận kết luận, « Kremlin có vẻ như tin rằng Người Nga chịu đựng vô hạn mức sống nghèo khổ, nạn tham nhũng và sự tàn nhẫn của chính phủ ». Như Moubarak đã từng nghĩ như vậy về người dân Ai Cập chăng ?


frachon@lemonde.fr

Alain Frachon (Chronique "International")

Article paru dans l'édition du 18.02.11

Révolte de la place Tahrir et "consensus de Pékin"


Chronique "International"

LEMONDE | 17.02.11 | 13h06 • Mis à jour le 17.02.11 | 17h09

Dans les colloques sur la mondialisation, il y aura dorénavant un "avant" et un "après" la Grande Révolte de la place Tahrir. Il ne s'agit pas seulement d'un repère chronologique. Il s'agit d'une date dans ce qui s'annonce comme l'une des grandes batailles idéologiques du siècle : la querelle des modèles. Explication.

Depuis quelques années, on célèbre à satiété ce qu'on appelle le "consensus de Pékin". C'est une formule élégante pour décrire des régimes qui prônent à la fois le capitalisme et le parti unique. On y voit la martingale gagnante pour les pays du Sud, la recette du décollage économique et social, celle de l'intégration dans l'économie globalisée. L'exemple vient de Chine - sacrée cette semaine deuxième économie mondiale derrière les Etats-Unis. Même si les Chinois se sont toujours gardés de "vendre" leur modèle, le "consensus de Pékin" n'a cessé de faire des émules.

En Russie, Vladimir Poutine s'en inspire, sans le dire, mais le modèle tente aussi nombre de pays africains. Il séduit l'équipe de Mahmoud Ahmadinejad en Iran. Il est copié par d'autres en Asie et ailleurs. L'équation gagnante à tous coups résiderait dans la fameuse combinaison chinoise : libre entreprise et autoritarisme politique. Voilà ce qui marche ! C'est ce qu'on pensait aussi en Egypte, du moins jusqu'à l'incongruité survenue au beau milieu de ce doux hiver des bords de Nil : la Grande Révolte de la place Tahrir.

Le "consensus de Pékin" n'était pas vanté qu'au Sud. Il s'est trouvé des experts aux Etats-Unis et en Europe pour imaginer qu'il allait dominer le siècle. L'expression serait due à l'Américain Joshua Cooper Ramo. Auteur et consultant, Cooper Ramo l'a forgée en 2004 en opposition à ce qu'on a appelé vers la fin des années 1980 le "consensus de Washington" : gouvernance la plus démocratique possible, libre entreprise et immédiate ouverture des frontières aux capitaux et marchandises du monde entier - voilà ce que le Fonds monétaire international (FMI) et le département du Trésor américain, notamment, vantaient alors comme le modèle gagnant-gagnant pour les économies du Sud et celles nouvellement désoviétisées de Russie et d'Europe orientale.

Au fil des succès remportés par la Chine, le "consensus de Pékin" a gagné en légitimité. La Chine s'affirmait comme un rival économique et bientôt militaire des Etats-Unis, mais aussi comme un concurrent idéologique : elle avait son soft power politique - sa capacité de séduction.

Dans les pays du Sud, son modèle damait le pion au "consensus de Washington" ; il paraissait mieux adapté que la démocratie "à l'occidentale" ; il avait mieux résisté à la crise de 2008-2009 provoquée par son rival. Transposé à l'Egypte, le "consensus de Pékin" s'énonçait ainsi : le capitalisme plus les moukhabarat (l'omniprésente police secrète).

Autoritarisme politique au service d'un capitalisme où l'Etat reste un acteur économique prépondérant contre la démocratie et la libre entreprise telles qu'on les pratique à l'Ouest... Le match idéologique du siècle. Modèle contre modèle. Dans ces cas-là, il se trouve toujours un Américain pour parier contre son camp et en annoncer l'inévitable déclin dans un ouvrage retentissant. En l'espèce, il s'appelle Stefan Halper.

Ex-diplomate devenu professeur à Cambridge (Royaume-Uni), Halper publie en 2010 un brillant essai : Le consensus de Pékin ou comment le modèle autoritaire chinois va dominer le XXIe siècle (Basic Books, New York). Thèse centrale : la Chine prouve qu'un système de parti unique et de libre entreprise sans libertés publiques peut être une alternative viable et vigoureuse au modèle américain de gouvernement par les citoyens.

On en était là quand, un an plus tard, les jeunes gens de la place Tahrir sont venus perturber l'assurance du professeur Halper et des autres, pour donner bruyamment leur point de vue. Pas sûr du tout que le "consensus de Pékin" soit la formule magique. Pas sûr du tout qu'il assure la stabilité politique à terme. Pas sûr du tout que l'autoritarisme politique, à supposer qu'il favorise toujours le développement économique, fasse le bonheur des peuples. Les mérites de la tyrannie à la Ben Ali ou à la Moubarak ont leurs limites.

L'honnêteté impose de dire que les Chinois ne font pas de prosélytisme pour leur modèle. Ils exportent des produits et des services, pas des idées. La même honnêteté conduit à se méfier des comparaisons entre des pays aussi différents que la Chine et l'Egypte. Mais il est tout de même symptomatique que la Révolte de la place Tahrir a donné lieu à un traitement a minima dans les médias chinois : interdiction faite à la presse de reprendre d'autres comptes rendus que ceux de l'agence officielle Chine nouvelle ; contrôle très strict de ce qui pouvait en être dit sur Internet. Comme si les jeunes Egyptiens étaient porteurs d'un message un peu trop subversif au goût des autorités de Pékin.

Dans l'autre grande autocratie de l'époque, la Russie de Poutine, la presse est plus libre. Le regard qu'elle porte sur la place Tahrir est tout aussi passionnant : "En dépit de tout le bruit fait l'an passé par les analystes politiques sur la perte d'influence du modèle démocratique occidental et sur la montée du modèle autocratique (comprendre la Chine, Singapour, etc.), éditorialise The Moscow Times, l'histoire n'est pas du côté de l'autocratie, parce que celle-ci, manquant par définition de légitimité, est instable par nature."

Le journal poursuit : "Les manifestations des retraités en 2005 et celles d'il y a un an à Kaliningrad ont été les premiers avertissements au règne de Vladimir Poutine. (...) Espérons que le Kremlin saura tirer les bonnes leçons de la "révolution du jasmin" en Tunisie et des protestations en Egypte avant qu'il ne soit trop tard". Las, conclut l'éditorial, "le Kremlin semble croire que les Russes toléreront sans fin un niveau de vie misérable, la corruption et la brutalité du gouvernement". Comme Moubarak le pensait des Egyptiens ?


frachon@lemonde.fr

Alain Frachon (Chronique "International") Article paru dans l'édition du 18.02.11

mercredi 16 février 2011

"La Chute de Saïgon", d'Olivier Todd : questions sur l'Amérique en guerre


Le livre du jour

LEMONDE | 15.02.11 | 15h54 • Mis à jour le 15.02.11 | 15h55


Pourquoi s'intéresser à nouveau à la chute de Saïgon, qui paraît appartenir à une histoire très ancienne ? Parce qu'elle est d'une étrange actualité. Elle permet de mieux comprendre la désastreuse campagne de George W. Bush en Irak et l'interminable guerre d'Afghanistan.

C'était il y a trente-six ans, le 30 avril 1975, au petit matin, par une aube claire, sans brouillard ni brume. Une quinzaine de divisions nord-vietnamiennes entourent la ville qui était jusqu'alors la capitale du Sud-Vietnam. Presque sans combats, les bo doï, casque de liège sur la tête, AK 47 en bandoulière, avancent derrière des chars soviétiques T-54 et T-56. Ils prennent une ville ébahie.

Saïgon ne comprend pas très bien ce qui lui arrive - pas tout de suite. Le Nord, communiste, appuyé par l'URSS et la Chine, vient de vaincre le Sud, longtemps soutenu par les Etats-Unis. Le Vietnam, divisé depuis près d'un demi-siècle, est réunifié par la force.

Journaliste, essayiste, romancier, Olivier Todd a reconstitué cet événement, ces journées des 29 et 30 avril, heure par heure, et les quatre mois qui les précèdent. De la défaite du Sud-Vietnam, où les Américains étaient massivement engagés depuis 1965, il dit : ce fut peut-être la dernière grande victoire du bloc communiste. Publié pour la première fois en 1987, ce livre se lit autant comme un ouvrage d'histoire contemporaine - ce qu'il est de manière pointilleuse - que comme un portrait de l'Amérique en guerre.

Enorme puissance militaire, les Etats-Unis sont une démocratie. La conduite de la guerre s'accommode mal d'un jeu politique à entrées multiples, où la décision appartient à plusieurs acteurs à la fois : le président, le département d'Etat, celui de la défense, le Congrès, pour ne pas parler de la presse.

Regard "désidéologisé"

Archives compilées, témoins interrogés en direct, Olivier Todd fait revivre tous les acteurs washingtoniens de l'époque. C'est plus prenant qu'une série d'épisodes du feuilleton télévisé "A la Maison Blanche". Il en ressort cette bonne vieille leçon de l'histoire : au moins autant sinon plus que les militaires, les "politiques" décident de l'issue de la guerre. La machine politique à l'oeuvre à Washington en 1975, cahotante, hésitante, ressemble à s'y tromper à celle d'aujourd'hui, heurtée, en proie au doute - celle qui met des mois avant de décider un retrait partiel d'Irak et un an avant d'ordonner tel tournant tactique en Afghanistan.

Longtemps, l'auteur a souffert de crises de "vietnamite" : il aime le Vietnam. Journaliste durant la guerre, il y a multiplié les séjours, au Nord et au Sud. Et dans le récit de ces quatre mois d'offensive sur Saïgon, série de scènes au montage savant, rythmé à la mitraillette, il y a un parfum de chaleur humide, une ambiance de ciel plombé, le bruit de la guerre en hélicos. Et un regard "désidéologisé", plein de sympathie pour les hommes et les femmes rencontrés au fil du drame.

La morale de cette histoire figure dans un autre livre, celui d'un Américain, tout juste publié aux Etats-Unis. Dans How Wars End (Simon and Schuster), Gideon Rose, le patron de la revue ForeignAffairs, s'interroge sur ce phénomène : depuis la fin du deuxième conflit mondial, l'Amérique entre volontiers en guerre, mais elle ne sait pas en sortir. Très largement, dit-il, parce qu'elle est une démocratie d'opinion. Le reportage historique d'Olivier Todd arrive à la même conclusion.


LA CHUTE DE SAÏGON d'Olivier Todd. Tempus, 768 p., 12 €.

Un "modèle turc" pour les révolutions arabes ?

Analyse

LEMONDE | 15.02.11 | 13h39 • Mis à jour le 15.02.11 | 19h44

Istanbul Correspondance - Quand la plupart des leaders du Moyen-Orient tombent en disgrâce, l'un d'eux renforce sa popularité : c'est le premier ministre turc, Recep Tayyip Erdogan, au pouvoir depuis 2003, et qui briguera un troisième mandat en juin. Dans un paysage de régimes autoritaires et décrépits, la Turquie montre un visage moderne, propre à séduire les peuples arabes en quête d'un modèle. Ankara s'est projeté sur la région avec un appétit non dissimulé, redevenant, en quelques années, une puissance économique, culturelle et politique dominante, diffusant ses séries télévisées autant que sa vision du monde.

Au moment où la place Tahrir du Caire réclamait le départ d'Hosni Moubarak, un cercle de réflexion turc influent, Tesev, publiait une enquête sur le rayonnement régional de la Turquie. Pour deux tiers des sondés, dans les pays arabes et en Iran, la Turquie "représente un exemple de mariage réussi entre islam et démocratie" et 78 % estiment qu'elle "devrait jouer un rôle plus important dans la région".

Selon cette étude, les trois forces du modèle turc sont, dans l'ordre, "sa tradition musulmane", "son économie dynamique" et "son gouvernement démocratique". Le modèle laïque kémaliste, bâti autour de son armée, qui a influencé des régimes autocratiques moyen-orientaux, est devenu obsolète. La perspective d'un Etat islamique aussi.

Le modèle, c'est la Turquie estampillée AKP (Parti de la justice et du développement), qui s'est imposée, en une décennie, comme un pays stable, capable de conjuguer les aspirations conservatrices de l'électorat avec la démocratie et l'économie de marché. Pragmatique, M. Erdogan a dépensé plus d'énergie à libéraliser l'économie qu'à islamiser la société turque. En huit ans, le produit intérieur brut (PIB) annuel par habitant a plus que triplé, à 11 000 dollars (8 180 euros). En Egypte, il est le même qu'il y a vingt ans.

De Rabat à Amman, il est désormais de bon ton, parmi les mouvements islamistes, de se référer à l'AKP. "De nombreux islamistes le voient comme un modèle pour intégrer le système démocratique et devenir des acteurs politiques", analyse Jonathan Levack, directeur de projet à Tesev. Le Parti de la justice et du développement marocain a emprunté son symbole, une ampoule, en adoptant la lampe à huile. En Irak et en Syrie, des mouvements s'inspirent du modèle turc. En Egypte, les Frères musulmans, bien que divisés, sont attirés par son aura.

"La Turquie démocratique est un exemple à suivre", estime Tariq Ramadan, petit-fils du fondateur de la confrérie. Quant au vieux leader islamiste tunisien Rached Ghannouchi, de retour d'exil, il a comparé son parti, Ennahda, à l'AKP, approuvant même le code du statut personnel tunisien et la possibilité qu'une femme soit élue présidente. Le type de concession à la laïcité d'Etat que le parti islamo-conservateur turc a consenti pour se hisser au pouvoir.

L'AKP, un modèle ? "C'est trop ambitieux, unexemple peut-être", a nuancé le président turc, Abdullah Gül. M. Erdogan, lui, voit la Turquie en "étoile polaire du Moyen-Orient". Mais, pour que la greffe turque prenne, il faudrait que le monde arabe connaisse un cheminement politique comparable à celui de la Turquie, passée, en trente ans, d'une dictature militaire sanglante à une démocratie, encore imparfaite, mais solidement ancrée. Emanation de l'islam politique, l'AKP a été fondé, en 2002, sur le schéma de la démocratie chrétienne allemande. Ses racines sont dans un islamisme classique, celui du Milli Görüs ("Vision nationale"), la doctrine de Necmettin Erbakan. Mais l'islamisme turc a participé à plusieurs gouvernements de coalition depuis 1974. Et le modèle n'en serait pas un sans l'héritage laïque et pro-occidental de la République, créée en 1923 par Atatürk, un cadre auquel le dernier-né de la famille islamiste s'est plié.

"Ils ont mis de l'eau dans leur vin", sourit l'intellectuel Mehmet Altan. L'AKP, qui rassemble des sensibilités diverses, a été conçu pour gouverner. Son fonds de commerce est la prospérité de son électorat, et non sa frustration. La pratique du pouvoir dans une république laïque et les négociations d'adhésion à l'UE, ouvertes en 2004, ont transformé l'AKP. "Il faut donner cette chance aux Frères musulmans, ajoute le chroniqueur Mustafa Akyol. La chance de participer librement aux élections, d'arriver au pouvoir, d'affronter les problèmes du monde réel et de trouver sa propre voie vers le pragmatisme."

C'est ce pragmatisme caractéristique de l'AKP qui devrait lui permettre d'être reconduit au pouvoir, en juin. Le savant équilibre entre des valeurs islamiques ostensiblement affirmées et un opportunisme politique de tous les instants a forgé le succès de M. Erdogan. Bien que membre de l'OTAN et alliée d'Israël, la Turquie a gagné en popularité grâce à ses diatribes contre Tel-Aviv. Mais ce qui séduit, c'est aussi l'image d'un pays moderne et ouvert sur l'Occident, attentif au droit des femmes et aux libertés individuelles. Pour devenir "l'étoile polaire" du monde arabe, M. Erdogan devra donc éviter de tomber dans le piège de l'autoritarisme et de l'hyperconcentration des pouvoirs.


perrier@lemonde.fr

Guillaume Perrier

Article paru dans l'édition du 16.02.11

dimanche 13 février 2011

Cuộc cách mạng hậu-hồi-giáo

REUTERS/ALI JAREKJI

Dư luận Âu Châu diễn dịch những cuộc nổi dậy của nhân dân Bắc Phi và ở Ai Cập qua chấn song sắt cũ kỹ hơn ba mươi năm : cuộc cách mạng hồi giáo ở Iran. Cuộc cách mạng này trông chờ để nhìn thấy những phong trào Hồi giáo, trong trường hợp này Hội Huynh đệ Hồi giáo và những nơi tương đương của họ, hoặc là đứng đầu phong trào, hoặc là nơi phục kích, sẵn sàng nắm lên quyền. nhưng sự thận trọng và thực dụng của Hội Huynh đệ Hồi giáo gây bất ngờ và đáng ngại : Những người theo Hồi giáo đi đâu ?

Nhưng nếu ta nhìn vào những người đã khởi xướng phong trào này, thì hiển nhiên phải nói đến một thế hệ hậu-hồi-giáo. Những phong trào cách mạng lớn của những năm 1970 và 1980, đối với họ là lịch sử cũ xưa, những câu chuyện của cha mẹ họ. thế hệ mới này không quan tâm đến ý thức hệ : những khẩu hiệu rất thực dụng và cụ thể (« cút đi », « erhal ») ; họ không kêu gọi đến đạo Hồi như những người đi trước họ đã làm ở Algéria vào cuối những năm 1980. Trên hết họ biểu lộ sự loại bỏ các nền độc tài tham nhũng và đòi hỏi dân chủ. Điều này không hiển nhiên nói rằng những người biểu tình là những người thế tục, nhưng đơn giản họ không xem nơi Hồi giáo một ý thức hệ chính trị cần thiết để xây dựng một trật tự tốt nhất : họ sống trong không gian chính trị thế tục. và những ý thức hệ khác đều được song song tồn tại : họ là những người theo chủ nghĩa quốc gia (xem những lá cờ họ vẫy) nhưng không đề cao ca tụng chủ nghĩa quốc gia. Độc đáo hơn nữa là việc làm ngơ giả điếc trước những lý thuyết âm mưu : Hoa Kỳ và Israel (hay Pháp ở Tunisia, đã ủng hộ Ben Ali cho đến cùng) không bị xem là nguyên nhân của những nỗi bất hạnh của thế giới Ả Rập. Ngay cả chủ nghĩa liên-Ả-rập đã biến mất như khẩu hiệu, ngay cả khi hệ quả của sự bắt chước máy móc mà nó đã ném những người Ai Cập và Yémen xuống đường tiếp theo sau những sự kiện ở Tunis cho thấy rằng có một thực tế chính trị của thế giới Ả rập.

Thế hệ này là thế hệ đa nguyên, không nghi ngờ gì nữa vì nó cũng cá nhân chủ nghĩa hơn. Những nghiên cứu xã hội học cho thấy rằng thế hệ này được hưởng nền giáo dục tốt hơn thế thệ trước, sống trong khuôn khổ của gia đình hạt nhân, ít con cái hơn, nhưng đồng thời, nó phải đối diện với nạn thất nghiệp hay sống trong rối loạn của các tầng lớp xã hội. Thế hệ này được thông tin nhiều hơn, và thường có được cách thức tiếp cận với các phương tiện truyền thông hiện đại cho phép kết nối thành mạng lưới cá nhân này với cá nhân khác không cần phải qua trung gian của các đảng phái chính trị (cách nào đó bị cấm). Giới trẻ biết rằng những chế độ theo Hồi giáo đã trở thành những thể chế độc tài : họ không còn bị quyến rũ bởi Iran hay Ả rập Xê-út. Những người biểu tình ở Ai Cập rõ ràng là những người biểu tình ở Iran chống lại Ahmedinejad (vì các lý do tuyên truyền chế độ ở Téhéran giả vờ như ủng hộ phong trào ở Ai Cập, nhưng đây là cái giá phải trả của Moubarak). Họ có thể là những người có tin ngưỡng, nhưng tách lìa điều đó với những yêu sách chính trị : theo nghĩa này phong trào mang tính « thế tục », vì nó tách bạch khỏi tôn giáo với chính trị. Thực hành tôn giáo mang chiều kích cá nhân riêng tư.

Người ta biểu tình trước hết vì phẩm giá, vì « sự tôn trọng » : khẩu hiệu này xuất phát từ Algéria vào cuối những năm 1990. Những giá trị mà người ta đòi hỏi thì rất là phổ quát, rất chung. Nhưng nền dân chủ mà người ta đòi hỏi ngày hôm nay không còn là một sản phẩm nhập khẩu nữa : Đó hoàn toàn khác với đợt khuyến mãi dân chủ được tổng thống Bush thực hiện năm 2003, mà nó không thể đón nhận được vì nó không có bất cứ tính hợp pháp chính trị nào và được kết hợp với sự can thiệp quân sự. Một cách mâu thuẫn sự suy yếu của Hoa Kỳ ở Trung Cận Đông, và chủ nghĩa thực dụng trong hành chánh của Obama, ngày hôm nay cho phép một đòi hỏi tại chỗ nền dân chủ được diễn tả với tất cả tính hợp pháp của nó.

Người ta nói một cuộc nổi dậy không làm nên một cuộc cách mạng. Phong trào này không có những thủ lĩnh, không có các đảng chính trị và khép kín, điều này là hợp lý với bản chất của nó nhưng đặt ra vấn đề về thể chế hóa nền dân chủ. Chưa chắc sự biến mất của một thể chế độc tài lại tự động kéo theo sự áp dụng một nền dân chủ tự do, như Washington từng hy vọng cho Irak. Tại mỗi nước Ả rập, cũng như ở nơi khác, đều có một khung cảnh chính trị cũng phức tạp không kém và vốn bị che khuất bởi chế độ độc tài. Nên quả thực, tách khỏi những người theo Hồi giáo, và rất thường xuyên, những nghiệp đoàn (dù có yếu kém), không có điều gì to tát.

Những người theo Hồi giáo không biến mất nhưng thay đổi

Chúng ta gọi những người theo Hồi giáo là những người họ thấy nơi đạo Hồi một ý thức hệ chính trị nhằm giải quyết mọi vấn đề của xã hội. những người triệt để nhất đã rời bỏ sân khấu cho cuộc thánh chiến (jihad) ở tầm quốc tế và không còn hiện diện ở đó nữa : họ ở trong sa mạc với Al-Qaida vùng Bắc Phi Ả Rập hồi giáo (AQMI), tại Pakistan hay ở ngoại ô Luân Đôn. Họ không có cơ sở xã hội hay chính trị. Cuộc thánh chiến toàn cầu hoàn toàn tách biệt khỏi những phong trào xã hội và những cuộc đấu tranh ở tâm mức quốc gia. Dĩ nhiên cuộc tuyên truyền của Al-Qaida cố gắng giới thiệu phong trào này như tầng lớp tiên phong của cộng đồng hồi giáo chống lại áp bức từ phương Tây, nhưng điều này không ổn. Al-Qaida tuyển lựa những thanh niên làm chiến binh của cuộc thánh chiến không mang tính khủng bố (jihadistes dé-territorialisés), không cơ sở xã hội, hoàn toàn cắt bỏ khỏi thế giới xung quanh và gia đình của họ. Al-Qaida vẫn còn đóng kín trong cái logic của mình về « sự tuyên truyền bằng việc làm » và không bao giờ bận tâm đến việc xây dựng một cấu trúc chính trị giữa lòng các xã hội hồi giáo. Vì thế hành động của Al-Qaida diễn ra ở Phương Tây hay nhắm đến các mục đích được xem làm của Phương Tây, nên tác động của nó trong các xã hội thực sự là con số không.

Một ảo thị khác là liên kết sự hồi giáo hóa đông đảo mà các xã hội trong thế giới Ả rập đã từng được biết đến trong suốt ba mươi năm vừa qua, với sự triệt để hóa chính trị. Nếu các xã hội Ả rập hiển thị rõ rệt hơn những đặc tính Hồi giáo so với cách nay ba mươi hay bốn mươi năm, làm sao giải thích sự vắng mặt của các khẩu hiệu mang tính hồi giáo trong những cuộc biểu tình hiện nay ? Đó là mâu thuẫn của sự hồi giáo hóa : nó đã phi chính trị hóa rộng rãi đạo Hồi. Sự tái hồi giáo hóa xã hội và văn hóa (mang khăn che mặt, số lượng đền thờ, gia tăng những người giảng đạo, những kênh truyền hình tôn giáo) được thực hiện bên ngoài những chiến sỹ của đạo Hồi, nó cũng mở ra một « thị trường tôn giáo » mà không ai còn có độc quyền ; nó cũng đang ở trong giai đoạn với cuộc tìm kiếm mới vể tính tôn giáo nơi giới trẻ, mà nó mang tính cá nhân riêng tư hơn và cũng thay đổi hơn. Vắn gọn, những người theo hồi giáo đã đánh mất sự độc quyền trong lời nói tôn giáo trong không gian công cộng, mà họ có được trong những năm 1980.

Mặt khác, các thể chế độc tài (không có ở Tunisia) thường ưu ái cho một đạo hồi bảo thủ, hiển hiện nhưng ít mang tính chính trị, bị ám ảnh bởi sự kiểm soát những thuần phong mỹ tục. Mang khăn che mặt bị tầm thường hóa. Chủ nghĩa bảo thủ của Nhà Nước đang ở trong trong giai đoạn với ảnh hưởng gọi là « salafiste » nhấn mạnh đến việc hồi giáo hóa những cá nhân và không nhấn trên những phong trào xã hội. Tóm lại, cũng mâu thuẫn như điều có thể xảy ra, sự tái hồi giáo hóa đã kéo theo một sự tầm thường hóa và phi chính trị hóa người mang dấu tôn giáo : khi mọi thứ đều mang tính tôn giáo, thì chẳng còn chi là tôn giáo nữa. Điều này, chúng ta đã thấy ở Tây Phương, được nhận ra như một làn sóng xanh to lớn của sự hồi giáo hóa mà cuối cùng nó chỉ tương ứng với một sự tầm thường hóa : mọi thứ đều trở nên hồi giáo, từ thức ăn nhanh cho đến thời trang phụ nữ. Nhưng những hình thức sùng kính đạo đức cũng được cá nhân hóa : người ta được thiết lập đức tin của mình, người ta tìm kiếm người giảng đạo nói về sự hiện thực của đạo, như giáo sỹ người Ai cập Amr Khaled, và người ta không còn quan tâm đến tính không tưởng của Nhà nước Hồi giáo. Những « salafis » tập trung trên sự bảo vệ những dấu hiệu và những giá trị tôn giáo nhưng lại không có chương trình chính trị : họ vắng bóng khỏi cuộc tranh cãi nơi người ta không thấy phụ nữ choàng khăn burqa (trong khi có nhiều phụ nữ trong số những người biểu tình, ngay cả ở Ai Cập). Và rồi những dòng tư tưởng tôn giáo khác mà ta tin đã rút lui, như soufisme, lại triển nở mạnh mẽ. sự đa dạng hóa của tính tôn giáo cũng thoát khỏi khuôn khổ đạo Hồi, như ta thấy ở Algéria hay Iran, với làn sóng cải đạo sang Ki-tô giáo.

Một sai lầm khác là việc quan niệm những thể chế độc tài như là sự bảo vệ tính thế tục chống lại sự cuồng tín tôn giáo. Các chế độ tự trị không thế tục hóa những xã hội, mà trái lại, ngoại trừ Tunisia, họ thích ứng với việc tái hồi giáo hóa của một hình thức tân-chính-thống (néo-fondamentalisme) trong đó người ta nói đến việc áp dụng luật charia mà không đặt vấn đề về bản chất của Nhà Nước. Khắp nơi những oulamas và những cơ chế tôn giáo chính thức đã được Nhà Nước thuần hóa, khi tuân thủ một chủ nghỉa bảo thủ thần học lạnh lẽo. Tuy các giáo sỹ truyền thống, được đào tạo ở Al-Azhar, không còn trong trường hợp này, cũng không liên quan đến vấn đề chính trị, cũng chẳng liên can đến những môi nguy cơ lớn của xã hội. họ chẳng đóng góp gì cho các thế hệ mới mà những thế hệ này đang tìm kiếm những hình thức mới để sống niềm tin của họ trong một thế giới mở rộng hơn. Nhưng cũng trong hoàn cảnh đó, những người bảo thủ tôn giáo không còn đứng bên cạnh trong cuộc phản kháng của nhân dân.


Chìa khóa của sự thay đổi

Mohammed Badie, le guide suprême depuis janvier 2010 des Frères musulmans égyptiens, lors d'une conférence de presse le 30 mai 2010.

Mohammed Badie, lãnh đạo tối cao từ tháng giêng 2010 của Hội Huynh đệ Hồi giáo ở Ai Cập, trong cuộc họp báo ngày 30/05/2010. AFP


Cuộc cách mạng này cũng đụng đến những phong trào chính trị Hồi giáo, mà chúng hiện thân dưới vòng ảnh hưởng của Hội Huynh đệ Hồi giáo và của những người bắt chước họ, như đảng Nahda ở Tunisia. Hội Huynh đệ Hồi giáo đã thay đổi rất nhiều. Điểm đầu tiên dĩ nhiên là kinh nghiệm thất bại, cũng như nơi thành công bề ngoài (cuộc cách mạng Hồi giáo Iran), cũng như trong thất bại (sự trấn áp khắp nơi chống lại họ). Thế hệ chiến sỹ mới đã rút ra bài học, cũng như những người cũ như Rachid Ghannouchi ở Tunisia. Họ hiểu rằng muốn nắm quyền tiếp sau cuộc cách mạng sẽ dẫn đến hoặc là một cuộc nội chiến, hoặc là chế độ độc tài ; trong cuộc đấu tranh của họ chống lại sự trấn áp họ tiến gần hơn đến những sức mạnh chính trị khác. Những người hiểu rõ xã hội riêng của họ, họ cũng biết cái ít ỏi trong trọng lực của ý thức hệ. Họ cũng đã rút ra những bài học từ mô hình của người Thổ : Erdogan và đảng AK đã hòa giải dân chủ, chiến thắng qua việc bầu cử, phát triển kinh tế, độc lập quốc gia và thúc đầy những giá trị nếu không là Hồi giáo, thì chí ít « cũng mang tính chính thống ».

Nhưng nhất là Hội Huynh đệ Hồi giáo không còn là những người mang đến một hình mẫu kinh tế hay xã hội. Họ đã trở thành những người bảo thủ về mặt phong hóa, và cấp tiến về mặt kinh tế. Và không còn nghi ngờ gì nữa diễn tiến đáng chú ý nhất : vào những năm 1980, những người theo Hồi giáo (nhất là người Chi’ites) định bảo vệ những lợi ích của các tầng lớp bị áp bức và khuyến khích nhà nước hóa kinh tế và tái phân chia sự giàu có. Ngày nay, Hội Huynh đệ Hồi giáo Ai Cập đã tán thành cuộc phản cải cách ruộng đất do Moubarak tiến hành, cuộc cải cách này hệ tại ở việc trao lại cho người chủ sở hữu đất đai quyền gia tăng hợp đồng thuê mướn và xa thải những người thuê mướn đất của họ. Cho dù là những người theo Hồi giáo không còn hiện diện trong các phong trào xã hội làm lung lay đồng bằng sông Nil, nơi người ta thấy sự trở lại của « cánh tả », tức là những thành viên của các nghiệp đoàn.

Nhưng sự tư sản hóa của những người theo Hồi giáo cũng là quân chủ bài cho nền dân chủ : nước cờ sai trên lá bài cách mạng hồi giáo, nó đã thúc đẩy họ đến việc hòa giải, thỏa hiệp và liên minh với những lực lượng chính trị khác. Vấn đề của ngày hôm nay không còn là biết rằng những chính thể độc tài là thành lũy tốt nhất chống lại hồi giáo hay không. Những người theo hồi giáo đã trở thành những tác giả của trò chơi dân chủ. Dĩ nhiên họ sẽ ảnh hưởng trong chiều hướng kiểm soát nhiều hơn những phong tục, nhưng sai lầm khi áp dụng một bộ máy trấn áp như ở Iran, hay một hệ thống cảnh sát tôn giáo như ở Ả rập Xê-út, họ sẽ phải tạo ra với đòi hỏi của tự do mà nó không chỉ dừng lại ở quyền bầu ra một quốc hội. vắn hay dài, những người theo hồi giáo sẽ phải xác định căn tính cho trào lưu salafiste hay bảo thủ truyền thống, cũng như đánh mất đi yêu sách của họ suy nghĩ về đạo hồi trong thời hiện đại, hay họ phải nỗ lực để suy nghĩ lại khái niệm của họ về những mối tương quan giữa tôn giáo và chính trị.

Hội Huynh đệ Hồi giáo hơn nữa sẽ là chìa khóa của sự thay đổi hơn thế hệ nổi loạn ít tìm kiếm xây dựng về mặt chính trị. Họ dừng lại ở cuộc nổi dậy phản kháng, mà không loan báo một hình thức chế độ mới. Mặt khác, những xã hội Ả rập vẫn còn bảo thủ ; các tầng lớp trung lưu đã phát triển tiếp theo những sự tự do hóa kinh tế muốn sự ổn định chính trị : trên hết họ phản kháng chống lại bản chất ăn cướp của những chế độ độc tài, mà nó gần giống với xung động ăn cắp trong chế độ ở Tunisia. So sánh giữa Tunisia và Ai Cập thì rõ. Ở Tunisia, cánh của Ben Ali đã làm suy yếu tất cả những liên minh tiềm năng của nó, bằng việc từ chối chia sẻ không chỉ quyền hành nhưng nhất là sự giàu có : tầng lớp của những doanh gia đã bị đúng theo nghĩa đen lừa đảo thường xuyên bởi gia đình, và quân đội đã không chỉ để cho bị việt vị trên bình diện chính trị, nhưng nhất là ngoài sự phân chia sự giàu có : quân đội Tunisia thì nghèo ; nó không có ngay cả lợi ích hợp tác để có một chế độ dân chủ mà nó sẽ bảo đảm một ngân sách cao hơn.

Trái lại tại Ai Cập chế độ có một nền tảng xã hội rộng rãi hơn, quân đội được kết hợp không chỉ với quyền lực mà còn với việc quản trị kinh tế và lợi nhuận của nó. Đòi hỏi dân chủ sẽ vấp phải ở khắp nơi trong thế giới ả rập sự bén rễ về mặt xã hội của những hệ thống gây ảnh hưởng chính trị bằng đường lối mỵ dân (clientélisme) của mỗi chế độ. Ở đây có một chiều kích nhân học rất lý thú : đòi hỏi dân chủ phải chăng có khả năng vượt qua những hệ thống phức tạp của lòng trung thành và của sự thuộc về những đoàn thể xã hội trung gian (phải nói đến quân đội, đoàn thể, bộ tộc, những ngưởi ủng hộ chính trị, v.v…). Đâu là khả năng của chế độ để tác động trên những lòng trung thành truyền thống (các gia đình người Bédouins ở Jourdanie, các bộ lạc ở Yémen) ? Làm sao những nhóm xã hội này có thể hay không kết nối với đòi hỏi của dân chủ và trở thành những tác giả ? Làm sao sự quy chiếu tôn giáo thay đổi khác đi và thích ứng với những tình trạng mới ? Tiến trình này sẽ lâu dài và hỗn độn, nhưng một điều chắc chắn : chúng ta không còn ở trong sự ngoại lệ ả rập hồi giáo. Những sự kiện hiện nay phản ánh một sự thay đổi sâu sắc của các xã hội trong thế giới ả rập. Những sự thay đổi này đã diễn ra từ lâu rồi, nhưng chúng bị che phủ bởi những lời sáo rỗng bền bỉ mà Tây Phương bám víu vào Trung Đông.

Cách nay 20 năm, tôi đã xuất bản cuốn sách tựa đề L’Echec de l’islam politique (Sự thất bại của đạo hồi chính trị). Cuốn sách có được đọc hay không không quan trọng, nhưng điều đang xảy ra ngày hôm nay cho thấy rằng những tác giả địa phương, chính họ, đã rút ra những bài học từ chính lịch sử của riêng họ. Chúng ta không kết thúc với hồi giáo, chắc chắn, và nền dân chủ tự do không phải là « sự kết thúc của lịch sử », nhưng từ này phải nghĩ đến hồi giáo trong khuôn khổ của quá trình tự trị của họ so với một nền văn hóa gọi là « ả rập hồi giáo » mà ngày nay cũng như trong quá khứ không còn đóng khung trên chính nó.

Olivier Roy, giáo sư và giám đốc chương trình Địa Trung Hải của Viện đại học Âu châu ở Florence (Italia)

LEMONDE.FR | 12.02.11